Skip to content

Tổng hợp các chủ trương, định hướng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến quản lý, bảo vệ và phát triển thủy lợi, tài nguyên nước ở Việt Nam

Đỗ Đức Dũng 20 tháng 5 năm 2026

1. Phần giới thiệu

Nước là tài nguyên thiết yếu, đồng thời là yếu tố nền tảng của phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm nguồn nước, ô nhiễm, khai thác nước dưới đất quá mức, gia tăng nhu cầu sử dụng nước và các rủi ro thiên tai liên quan đến nước, việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tài nguyên nước và thủy lợi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, luật, nghị định, quyết định, thông tư nhằm từng bước hình thành khung quản trị nước theo hướng tổng hợp, thống nhất, liên ngành, liên vùng và theo lưu vực sông. Đặc biệt, Kết luận số 36-KL/TW của Bộ Chính trị xác định mục tiêu bảo đảm số lượng, chất lượng nước phục vụ dân sinh trong mọi tình huống; đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất, kinh doanh; bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, sử dụng nước công bằng, hợp lý; đồng thời gắn khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn nước với an toàn đập, hồ chứa nước và thích ứng biến đổi khí hậu.

Từ năm 2025, việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Môi trường trên cơ sở hợp nhất các chức năng quản lý nhà nước về nông nghiệp, thủy lợi, phòng chống thiên tai, tài nguyên nước, môi trường, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu tạo điều kiện thể chế quan trọng để tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên nước và công trình thủy lợi trong một đầu mối quản lý thống nhất hơn.

2. Thực trạng hệ thống văn bản theo từng nhóm

2.1. Nhóm chủ trương, định hướng của Đảng

Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI là văn kiện nền tảng về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nghị quyết nêu rõ các vấn đề về thiên tai bất thường, suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường và yêu cầu đổi mới quản lý tài nguyên, trong đó có tài nguyên nước.

Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 của Bộ Chính trị là văn kiện chuyên sâu, trực tiếp nhất về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Văn kiện này yêu cầu rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước; đồng thời yêu cầu kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý nguồn nước theo hướng thống nhất, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Nhóm văn kiện của Đảng thể hiện định hướng nhất quán: chuyển từ tư duy quản lý nước theo công trình, theo ngành riêng lẻ sang tư duy quản trị an ninh nguồn nước, quản lý tổng hợp tài nguyên nước, bảo vệ nguồn sinh thủy, phòng chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm và tăng cường khả năng chống chịu trước thiên tai, biến đổi khí hậu.

2.2. Nhóm luật và nghị quyết của Quốc hội

Luật Tài nguyên nước số 28/2023/QH15 được Quốc hội ban hành ngày 27/11/2023, có hiệu lực từ ngày 01/7/2024. Luật quy định về quản lý, bảo vệ, điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra. Đây là đạo luật trung tâm điều chỉnh quản lý tài nguyên nước trong giai đoạn mới.

Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 được ban hành ngày 19/6/2017, có hiệu lực từ ngày 01/7/2018, tạo khung pháp lý cho hoạt động thủy lợi, bao gồm quản lý, khai thác công trình thủy lợi, dịch vụ thủy lợi, an toàn công trình và bảo vệ công trình thủy lợi.

Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều số 60/2020/QH14 là cơ sở pháp lý quan trọng cho quản lý rủi ro thiên tai liên quan đến nước, lũ, bão, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển và bảo vệ hệ thống đê điều; phòng chống lũ, bảo vệ vùng hạ du, đô thị, khu dân cư và sản xuất nông nghiệp.

Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 có liên quan chặt chẽ đến bảo vệ chất lượng nước, kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường, quan trắc và quản lý chất lượng môi trường nước mặt.

Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14Nghị quyết số 61/2022/QH15 là cơ sở pháp lý cho hệ thống quy hoạch quốc gia, quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và việc tháo gỡ khó khăn, nâng cao chất lượng quy hoạch thời kỳ 2021–2030. Đây là nền tảng để tích hợp quy hoạch tài nguyên nước, quy hoạch phòng chống thiên tai và thủy lợi với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Đến năm 2025, Quốc hội ban hành Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/3/2026, thay thế, hoàn thiện khung pháp lý về quy hoạch trong bối cảnh tổ chức lại không gian phát triển, sắp xếp đơn vị hành chính và yêu cầu nâng cao chất lượng, tính liên thông của hệ thống quy hoạch. Vì vậy, khi rà soát các quy hoạch tài nguyên nước, thủy lợi, lưu vực sông, vùng và tỉnh trong giai đoạn hiện nay cần đặt trong mối quan hệ với Luật Quy hoạch năm 2025.

Luật Khí tượng thủy văn số 90/2015/QH13 là cơ sở pháp lý cho hoạt động quan trắc, dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn, trong đó có các hiện tượng liên quan trực tiếp đến quản lý nước như mưa lớn, lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu nước và các rủi ro thiên tai do nước gây ra. Luật này ban hành ngày 23/11/2015, có hiệu lực từ 01/7/2016.

Luật Đất đai 2024 có liên quan gián tiếp nhưng quan trọng đến quản lý tài nguyên nước thông qua quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ không gian nguồn nước, quản lý khu vực có nguy cơ sụt lún, ô nhiễm đất – nước, bố trí quỹ đất cho công trình thủy lợi, công trình cấp nước, quan trắc tài nguyên nước và hạ tầng phòng, chống thiên tai.

Bên cạnh các luật chuyên ngành về tài nguyên nước và thủy lợi, cần xem xét mối liên hệ với Luật Khí tượng thủy văn, Luật Đê điều, Luật Đất đai và các luật về quy hoạch, bảo vệ môi trường. Đây là các luật tạo nền tảng pháp lý cho quan trắc, dự báo, cảnh báo nguồn nước, bảo vệ hành lang nguồn nước, phòng chống lũ, quản lý không gian sử dụng đất và kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.

2.3. Nhóm nghị định và nghị quyết của Chính phủ

Đối với nhóm nghị định về tài nguyên nước, cần ưu tiên xác định các nghị định hiện hành trực tiếp thi hành Luật Tài nguyên nước năm 2023; đồng thời rà soát các nghị định ban hành theo Luật Tài nguyên nước năm 2012 để phân biệt rõ căn cứ pháp lý hiện hành với căn cứ pháp lý giai đoạn trước.

a. Nghị định hiện hành trực tiếp thi hành Luật Tài nguyên nước 2023: Nghị định 53/2024/NĐ-CP, Nghị định 54/2024/NĐ-CP.

Nghị định số 53/2024/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước, ban hành ngày 16/5/2024 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2024. Đây là nghị định quan trọng để triển khai Luật Tài nguyên nước 2023 trong thực tiễn quản lý.

Nghị định số 54/2024/NĐ-CP quy định về hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký, cấp phép, dịch vụ tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; nghị định này cũng có hiệu lực từ ngày 01/7/2024. Văn bản này đặc biệt quan trọng đối với quản lý khai thác nước dưới đất, cấp phép sử dụng nước và công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên nước. Cùng với Nghị định số 53/2024/NĐ-CP đây là hai nghị định “trụ cột” triển khai Luật Tài nguyên nước 2023 từ 01/7/2024.  

b. Nghị định về thủy lợi, an toàn đập, dịch vụ thủy lợi: Nghị định 67/2018/NĐ-CP, 96/2018/NĐ-CP, 114/2018/NĐ-CP.

Nghị định số 67/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi, có hiệu lực từ ngày 01/7/2018. Nghị định này điều chỉnh các nội dung như phân loại, phân cấp công trình thủy lợi, năng lực tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi và cấp phép hoạt động trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi.

Nghị định số 96/2018/NĐ-CP quy định về giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi. Đây là cơ sở pháp lý cho cơ chế tài chính, giá dịch vụ và hỗ trợ trong lĩnh vực khai thác công trình thủy lợi.

Nghị định số 114/2018/NĐ-CP về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước là văn bản then chốt trong bảo đảm an toàn công trình hồ, đập, nhất là trong bối cảnh nhiều hồ chứa xuống cấp, chịu tác động của mưa lũ cực đoan và yêu cầu vận hành liên hồ chứa ngày càng cao.

c. Nghị định giai đoạn trước cần rà soát, đối chiếu hiệu lực: Nghị định 02/2023/NĐ-CP, Nghị định 43/2015/NĐ-CP.

Nghị định 02/2023/NĐ-CP từng quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước 2012; Nghị định 43/2015/NĐ-CP quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước.

Nghị định số 03/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai, thủy lợi và đê điều; Nghị định số 04/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ. Hai nghị định này góp phần hoàn thiện công cụ thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.

Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu là văn bản có ý nghĩa chiến lược, đặt trọng tâm vào chuyển đổi mô hình phát triển vùng, thích ứng với lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, sụt lún, sạt lở và thay đổi điều kiện nguồn nước thượng lưu.

2.4. Nhóm quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Quyết định số 1595/QĐ-TTg ngày 23/12/2022 ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Kết luận số 36-KL/TW. Quyết định này cụ thể hóa các nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế, quy hoạch, điều tra cơ bản, tăng cường tích trữ, điều hòa, phân phối nguồn nước, bảo đảm an toàn đập, hồ chứa và nâng cao năng lực phòng chống thiên tai liên quan đến nước.

Quyết định số 1622/QĐ-TTg ngày 27/12/2022 phê duyệt Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là quy hoạch ngành quốc gia quan trọng, định hướng điều hòa, phân phối, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên phạm vi cả nước.

Quyết định số 847/QĐ-TTg ngày 14/7/2023 phê duyệt Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Quy hoạch này hướng tới bảo đảm cấp nước, tiêu, thoát nước cho dân sinh, sản xuất nông nghiệp, các ngành kinh tế, bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực phòng chống thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu.

Quyết định số 145/QĐ-TTg ngày 02/02/2024 phê duyệt kế hoạch, chính sách và giải pháp thực hiện Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Văn bản này chuyển hóa quy hoạch thành lộ trình thực hiện, chính sách và giải pháp tổ chức triển khai.

2.5. Nhóm thông tư hướng dẫn chung về tài nguyên nước, thủy lợi, dữ liệu, phân cấp và định mức

Thông tư số 03/2024/TT-BTNMT quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước, ban hành ngày 16/5/2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2024. Đây là thông tư hướng dẫn quan trọng trong giai đoạn triển khai Luật Tài nguyên nước 2023.

Thông tư số 05/2018/TT-BNNPTNT quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi, ban hành ngày 15/5/2018, có hiệu lực từ ngày 01/7/2018. Văn bản này hỗ trợ triển khai Luật Thủy lợi và các nghị định liên quan.

Sau khi hình thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường, một số thông tư mới đã được ban hành theo ký hiệu BNNMT, thể hiện xu hướng tích hợp quản lý thủy lợi, tài nguyên nước, dữ liệu và phân cấp thẩm quyền. Đáng chú ý gồm: Thông tư số 04/2025/TT-BNNMT về định mức dự toán chuyên ngành xây dựng công trình thủy lợi và đê điều; Thông tư số 20/2025/TT-BNNMT về phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi; Thông tư số 61/2025/TT-BNNMT về định mức kinh tế – kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước và cảnh báo, dự báo nguồn nước; và Thông tư số 64/2025/TT-BNNMT về cấu trúc, chuẩn dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước.

2.6. Nhóm thông tư, quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến nước dưới đất

Bên cạnh Luật Tài nguyên nước, các nghị định và quyết định quy hoạch, hệ thống thông tư kỹ thuật về nước dưới đất có vai trò rất quan trọng vì đây là nhóm văn bản trực tiếp hướng dẫn điều tra, đánh giá, quan trắc, lập bản đồ, khoan thăm dò, bơm thí nghiệm, bảo vệ tầng chứa nước, trám lấp giếng, quản lý trạm quan trắc và chuẩn hóa dữ liệu.

Có thể phân thành các nhóm sau:

Nhóm nội dungVăn bản cần bổ sungÝ nghĩa đối với quản lý nước dưới đất
Lập bản đồ tài nguyên nước dưới đấtThông tư 16/2013/TT-BTNMT về kỹ thuật lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:100.000; Thông tư 17/2013/TT-BTNMT về kỹ thuật lập bản đồ tỷ lệ 1:200.000.Là cơ sở kỹ thuật để xây dựng bản đồ phân bố tầng chứa nước, khả năng chứa nước, chất lượng nước và điều kiện khai thác theo vùng, lưu vực, địa phương.
Quan trắc nước dưới đấtThông tư 19/2013/TT-BTNMT quy định kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước dưới đất.Quy định nguyên tắc, nội dung, yêu cầu kỹ thuật cho mạng quan trắc mực nước, chất lượng nước, động thái nước dưới đất; rất quan trọng đối với cảnh báo suy giảm mực nước, nhiễm mặn, ô nhiễm.
Điều tra, đánh giá nước dưới đấtThông tư 13/2014/TT-BTNMT quy định kỹ thuật điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất.Đây là thông tư kỹ thuật nền tảng cho đánh giá số lượng, chất lượng, ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt, nhiễm mặn, ngưỡng khai thác, khu vực dự trữ và khu vực cần hạn chế khai thác nước dưới đất.
Đăng ký, cấp phép khai thác nước dưới đấtThông tư 27/2014/TT-BTNMT quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất, mẫu hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước.Là văn bản quan trọng trong giai đoạn trước Luật Tài nguyên nước 2023, cần đưa vào nhóm văn bản lịch sử và rà soát hiệu lực, vì hiện nay nhiều nội dung cấp phép, đăng ký, kê khai đã được điều chỉnh theo Nghị định 54/2024/NĐ-CP.
Hành nghề khoan nước dưới đấtThông tư 40/2014/TT-BTNMT quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất.Liên quan trực tiếp đến điều kiện hành nghề, năng lực tổ chức/cá nhân khoan nước dưới đất; cần rà soát cùng Nghị định 54/2024/NĐ-CP về hành nghề khoan nước dưới đất.
Bơm nước thí nghiệmThông tư 08/2015/TT-BTNMT quy định kỹ thuật bơm nước thí nghiệm trong điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất.Là căn cứ kỹ thuật xác định thông số địa chất thủy văn, hệ số thấm, hệ số truyền dẫn, khả năng khai thác, bán kính ảnh hưởng, phục vụ đánh giá trữ lượng có thể khai thác.
Khoan điều tra, đánh giá, thăm dòThông tư 59/2015/TT-BTNMT quy định kỹ thuật khoan điều tra, đánh giá và thăm dò nước dưới đất.Quy định kỹ thuật khoan, kết cấu lỗ khoan, lấy mẫu, mô tả địa tầng, phục vụ điều tra cơ bản và thăm dò khai thác nước dưới đất.
Vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạtThông tư 24/2016/TT-BTNMT quy định việc xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; hiện cần đối chiếu với Thông tư 03/2024/TT-BTNMT.Trước đây là cơ sở xác định vùng bảo vệ công trình lấy nước sinh hoạt; từ ngày 01/7/2024, Thông tư 03/2024/TT-BTNMT quy định lại nội dung này cùng với bảo vệ nước dưới đất, kế hoạch bảo vệ nước dưới đất và bổ sung nhân tạo nước dưới đất.
Trám lấp giếng không sử dụngThông tư 72/2017/TT-BTNMT về xử lý, trám lấp giếng không sử dụng; Thông tư 22/2024/TT-BTNMT ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trám lấp giếng không sử dụng.Rất quan trọng để ngăn ngừa ô nhiễm xuyên tầng, tránh biến giếng hỏng, giếng bỏ hoang thành đường dẫn ô nhiễm xuống tầng chứa nước.
Bảo vệ nước dưới đất trong hoạt động khoan, đào, thăm dò, khai thácThông tư 75/2017/TT-BTNMT quy định về bảo vệ nước dưới đất trong các hoạt động khoan, đào, thăm dò, khai thác nước dưới đất; cần đối chiếu với Thông tư 03/2024/TT-BTNMT.Là nhóm quy định kỹ thuật nhằm phòng ngừa suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm, nhiễm mặn và thông tầng nước dưới đất trong quá trình khoan, đào, thăm dò, khai thác.
Báo cáo tài nguyên nướcThông tư 31/2018/TT-BTNMT quy định nội dung, biểu mẫu báo cáo tài nguyên nước.Góp phần chuẩn hóa báo cáo định kỳ, số liệu khai thác, sử dụng, hiện trạng tài nguyên nước, trong đó có nước dưới đất.
Quy chuẩn chất lượng nước mặt, nước dưới đấtThông tư 01/2023/TT-BTNMT ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng môi trường xung quanh, trong đó có QCVN 08:2023/BTNMT và QCVN 09:2023/BTNMTLà căn cứ đánh giá, phân loại, so sánh chất lượng nước mặt và nước dưới đất; phục vụ quan trắc, điều tra, cảnh báo ô nhiễm, suy thoái và lập phương án bảo vệ nguồn nước
Hướng dẫn mới theo Luật Tài nguyên nước 2023Thông tư 03/2024/TT-BTNMT quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước.Đây là văn bản mới rất quan trọng, quy định các nội dung: vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; bảo vệ nước dưới đất; lập, điều chỉnh kế hoạch bảo vệ nước dưới đất; bổ sung nhân tạo nước dưới đất.
Kiểm tra, thẩm định, nghiệm thu điều tra cơ bản tài nguyên nướcThông tư 04/2024/TT-BTNMT quy định kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tài nguyên nước và thẩm định, nghiệm thu kết quả hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước.Cần bổ sung vì liên quan trực tiếp đến chất lượng sản phẩm điều tra cơ bản, trong đó có điều tra, đánh giá nước dưới đất.
Di chuyển, thay đổi, giải thể trạm quan trắc nước dưới đấtThông tư 05/2024/TT-BTNMT quy định việc di chuyển, thay đổi vị trí, giải thể trạm quan trắc tài nguyên nước dưới đất.Rất quan trọng đối với quản lý mạng quan trắc quốc gia, bảo đảm tính liên tục, đại diện và ổn định của chuỗi số liệu nước dưới đất.
Định mức quan trắc, cảnh báo, dự báo nguồn nướcThông tư 61/2025/TT-BNNMT quy định định mức kinh tế – kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước và cảnh báo, dự báo nguồn nước.Là căn cứ lập dự toán, tổ chức nhiệm vụ quan trắc, cảnh báo, dự báo nguồn nước, bao gồm cả nước dưới đất khi triển khai nhiệm vụ kỹ thuật.
Chuẩn dữ liệu quốc gia về tài nguyên nướcThông tư 64/2025/TT-BNNMT quy định kỹ thuật về cấu trúc, chuẩn dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước.Là văn bản rất quan trọng cho chuyển đổi số ngành nước, chuẩn hóa dữ liệu lỗ khoan, địa tầng, tầng chứa nước, công trình khai thác, quan trắc, giấy phép và dữ liệu tài nguyên nước.

Nhận xét đưa vào báo cáo:

Nhóm thông tư kỹ thuật về nước dưới đất đã hình thành tương đối đầy đủ, bao phủ nhiều khâu từ điều tra cơ bản, lập bản đồ, khoan thăm dò, bơm thí nghiệm, quan trắc, bảo vệ nước dưới đất, trám lấp giếng đến chuẩn hóa dữ liệu. Tuy nhiên, cần tiếp tục rà soát tình trạng hiệu lực và mức độ phù hợp của các thông tư ban hành trước Luật Tài nguyên nước năm 2023.

2.7. Nhóm quyết định phê duyệt quy hoạch liên quan đến thủy lợi, tài nguyên nước, lưu vực sông, vùng và tỉnh

2.7.1. Quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch ngành quốc gia liên quan trực tiếp đến nước

Văn bảnNội dung chínhÝ nghĩa cần nêu trong báo cáo
Nghị quyết 81/2023/QH15 về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.Xác lập định hướng tổ chức không gian phát triển quốc gia.Là khung cao nhất để các quy hoạch ngành, vùng, tỉnh phải bảo đảm tính thống nhất, trong đó có quy hoạch tài nguyên nước, thủy lợi, cấp nước, phòng chống thiên tai.
Quyết định 1622/QĐ-TTg ngày 27/12/2022 phê duyệt Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.Quy hoạch ngành quốc gia về điều hòa, phân bổ, khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên nước.Đây là văn bản trục để rà soát sự phù hợp của quy hoạch lưu vực sông, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch có khai thác, sử dụng nước.
Quyết định 161/QĐ-TTg ngày 06/02/2024 phê duyệt Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tài nguyên nước.Cụ thể hóa lộ trình triển khai Quy hoạch tài nguyên nước, bao gồm lập, rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh.Cần đưa vào phần giải pháp vì đây là cơ sở giao nhiệm vụ, nguồn lực, tiến độ thực hiện quy hoạch tài nguyên nước.
Quyết định 847/QĐ-TTg ngày 14/7/2023 phê duyệt Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.Quy hoạch ngành quốc gia về phòng chống thiên tai và thủy lợi.Là văn bản quan trọng để liên kết quản lý nguồn nước với công trình thủy lợi, an toàn đập, hồ chứa, cấp nước, tiêu thoát nước, phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn, lũ, ngập úng.
Quyết định 145/QĐ-TTg ngày 02/02/2024 phê duyệt kế hoạch, chính sách, giải pháp thực hiện Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi.Chuyển hóa quy hoạch thành kế hoạch triển khai.Cần dùng để xác định các nhiệm vụ ưu tiên, cơ chế phối hợp, nguồn lực và trách nhiệm thực hiện trong lĩnh vực thủy lợi, phòng chống thiên tai.
Quyết định 432/QĐ-TTg ngày 24/3/2021 phê duyệt Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.Định hướng điều tra cơ bản tài nguyên nước trên phạm vi quốc gia.Rất phù hợp với chức năng của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia; cần đưa vào phần nhiệm vụ kỹ thuật, dữ liệu, điều tra cơ bản, đánh giá tài nguyên nước mặt và nước dưới đất.

2.7.2. Quy hoạch vùng có liên quan đến nước, thủy lợi và tài nguyên nước

Các quy hoạch vùng không phải là quy hoạch chuyên ngành nước, nhưng có vai trò rất quan trọng vì xác định không gian phát triển, nhu cầu nước, phân bố đô thị – công nghiệp – nông nghiệp, hạ tầng cấp nước, thoát nước, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu.

Các quy hoạch vùng thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được phê duyệt trong năm 2024 và đến năm 2026 được điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển, sắp xếp đơn vị hành chính và mô hình phát triển vùng mới. Vì vậy, khi sử dụng trong báo cáo cần ưu tiên dẫn chiếu các quyết định điều chỉnh năm 2026, đồng thời ghi rõ các quyết định năm 2024 là căn cứ phê duyệt ban đầu.

Vùng theo quyết định điều chỉnh năm 2026Văn bản nên dẫn chínhGhi chú
Trung du và miền núi phía BắcQuyết định 610/QĐ-TTg ngày 04/4/2026Thay thế/cập nhật căn cứ quy hoạch vùng đã phê duyệt trước đó
Đồng bằng sông HồngQuyết định 612/QĐ-TTg ngày 04/4/2026Cần gắn với lưu vực Hồng – Thái Bình
Bắc Trung BộQuyết định 613/QĐ-TTg ngày 04/4/2026Tách rõ với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây NguyênQuyết định 614/QĐ-TTg ngày 04/4/2026Rất quan trọng về hạn hán, nước dưới đất, hồ chứa, lưu vực Sê San – Srêpốk
Đông Nam BộQuyết định 615/QĐ-TTg ngày 04/4/2026Gắn với lưu vực sông Đồng Nai và an ninh cấp nước đô thị – công nghiệp
Đồng bằng sông Cửu LongQuyết định 616/QĐ-TTg ngày 04/4/2026Gắn với an ninh nguồn nước, hạn – mặn, sụt lún, khai thác nước dưới đất

2.7.3. Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh đã được phê duyệt

Đây là nhóm văn bản đặc biệt quan trọng đối với báo cáo của anh, vì thể hiện rõ tư duy quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông, thay vì chỉ theo địa giới hành chính.

Lưu vực sôngQuyết định phê duyệtÝ nghĩa quản lý
Bằng Giang – Kỳ CùngQuyết định 1969/QĐ-TTg ngày 23/11/2021 phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.Lưu vực liên tỉnh, liên quốc gia; cần chú ý phân bổ nước, bảo vệ nguồn nước, phòng chống ô nhiễm và hợp tác xuyên biên giới.
SrêpốkQuyết định 2138/QĐ-TTg ngày 20/12/2021 phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Srêpốk thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.Gắn với Tây Nguyên, thủy điện, tưới cây công nghiệp, thiếu nước mùa khô, dòng chảy xuyên biên giới.
Sê SanQuyết định 2204/QĐ-TTg ngày 27/12/2021 phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Sê San thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.Quy hoạch nêu cả chức năng nguồn nước mặt và nước dưới đất; có ý nghĩa về cấp nước, thủy điện, nông nghiệp, môi trường và quản lý xuyên biên giới.
Hồng – Thái BìnhQuyết định 50/QĐ-TTg ngày 06/02/2023 phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Hồng – Thái Bình thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.Là lưu vực đặc biệt quan trọng về an ninh nước miền Bắc, cấp nước đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, dòng chảy tối thiểu, tiêu thoát lũ và phục hồi nguồn nước bị suy thoái.
Cửu LongQuyết định 174/QĐ-TTg ngày 06/3/2023 phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.Cần gắn với an ninh nguồn nước ĐBSCL, nguồn nước xuyên biên giới, hạn hán, xâm nhập mặn, sụt lún, khai thác nước dưới đất và chuyển đổi sản xuất.
Sông MãQuyết định 20/QĐ-TTg ngày 08/01/2024 phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Mã thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.Quan trọng đối với vùng Bắc Trung Bộ, cấp nước, thủy lợi, thủy điện, phòng chống lũ, bảo vệ nguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia.
Sông HươngQuyết định 21/QĐ-TTg ngày 08/01/2024 phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Hương thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.Gắn với cấp nước, đô thị Huế, di sản, lũ lụt, môi trường, cảnh quan, bảo vệ dòng chảy và chất lượng nước.
Sông Đồng NaiQuyết định 22/QĐ-TTg ngày 08/01/2024 phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Đồng Nai thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.Đặc biệt quan trọng cho Đông Nam Bộ, TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, cấp nước sinh hoạt – công nghiệp, hồ chứa, xâm nhập mặn hạ lưu và ô nhiễm nguồn nước.

Lưu ý quan trọng: một số quy hoạch tổng hợp lưu vực sông khác như Vu Gia – Thu Bồn, sông Cả, Kôn – Hà Thanh, Trà Khúc được đưa vào danh mục nhiệm vụ năm 2026 của Chính phủ, nhưng theo thông tin công khai em kiểm tra được thì là dự kiến trình trong năm 2026, chưa nên ghi là đã phê duyệt nếu chưa có quyết định chính thức.

2.7.4. Quy hoạch tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Đối với quy hoạch tỉnh, không nên đưa toàn bộ danh mục vào thân báo cáo vì số lượng rất lớn. Nên lập Phụ lục riêng với các cột sau:

STTTỉnh/thành theo quyết định phê duyệtQuyết định phê duyệtThời kỳ, tầm nhìnNội dung liên quan đến nước cần trích
1An GiangQuyết định 1369/QĐ-TTg ngày 15/11/20232021–2030, tầm nhìn 2050Nông nghiệp, thủy sản, vùng lũ, cấp nước, thích ứng biến đổi khí hậu.
2Cần ThơQuyết định 1519/QĐ-TTg ngày 02/12/20232021–2030, tầm nhìn 2050Cực tăng trưởng ĐBSCL, cấp nước đô thị, thoát nước, ngập đô thị, thích ứng biến đổi khí hậu.
3Lâm ĐồngQuyết định 1727/QĐ-TTg ngày 29/12/20232021–2030, tầm nhìn 2050Nguồn sinh thủy, thượng nguồn Đồng Nai, nước dưới đất, hồ chứa, nông nghiệp công nghệ cao.
4Tây NinhQuyết định 1736/QĐ-TTg ngày 29/12/20232021–2030, tầm nhìn 2050Lưu vực Đồng Nai – Vàm Cỏ, cấp nước, tưới, biên giới, công nghiệp, đô thị.
5Thừa Thiên HuếQuyết định 1745/QĐ-TTg ngày 30/12/20232021–2030, tầm nhìn 2050Lưu vực sông Hương, lũ lụt, đô thị di sản, đầm phá, cấp nước, môi trường nước.
6Phú YênQuyết định 1746/QĐ-TTg ngày 30/12/20232021–2030, tầm nhìn 2050Hạn hán Nam Trung Bộ, lưu vực sông Ba, cấp nước, thủy lợi, ven biển.
7Đồng ThápQuyết định 39/QĐ-TTg ngày 11/01/20242021–2030, tầm nhìn 2050Vùng lũ, nông nghiệp, thủy sản, kiểm soát lũ, cấp nước, thích ứng ĐBSCL.
8Nghệ AnQuyết định 1059/QĐ-TTg ngày 14/9/20232021–2030, tầm nhìn 2050Lưu vực sông Cả, thủy lợi, cấp nước, lũ, hạn, miền núi – ven biển.
9Hải DươngQuyết định 1639/QĐ-TTg ngày 19/12/20232021–2030, tầm nhìn 2050Lưu vực Hồng – Thái Bình, cấp nước công nghiệp, tiêu thoát nước, ô nhiễm nguồn nước.
10Nam ĐịnhQuyết định 1729/QĐ-TTg ngày 28/12/20232021–2030, tầm nhìn 2050Ven biển, xâm nhập mặn, cấp nước, đê điều, tiêu thoát nước, bảo vệ nước dưới đất vùng đồng bằng.

Quy hoạch tỉnh là cấp quy hoạch tích hợp, trong đó các nội dung về tài nguyên nước thường nằm rải rác trong các mục: phương án bảo vệ môi trường; phương án phát triển hạ tầng thủy lợi; cấp nước, thoát nước; phòng chống thiên tai; sử dụng đất; phát triển đô thị, công nghiệp, nông nghiệp; bảo tồn đa dạng sinh học; thích ứng biến đổi khí hậu. Vì vậy, khi tổng hợp không nên chỉ liệt kê tên quyết định, mà cần trích xuất các nội dung liên quan đến: nguồn nước, nhu cầu nước, công trình thủy lợi, cấp nước sinh hoạt, khai thác nước dưới đất, vùng hạn chế khai thác, tiêu thoát nước, phòng chống ngập, hạn hán, xâm nhập mặn, bảo vệ môi trường nước và an ninh nguồn nước.

2.8. Nhóm văn bản về dữ liệu, quan trắc, dự báo và chuyển đổi số ngành nước

Thông tư 61/2025/TT-BNNMT quy định định mức kinh tế – kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước và cảnh báo, dự báo nguồn nước; Thông tư 64/2025/TT-BNNMT quy định kỹ thuật về cấu trúc, chuẩn dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước.

Định mức quan trắc, cảnh báo, dự báo nguồn nướcThông tư 61/2025/TT-BNNMT quy định định mức kinh tế – kỹ thuật quan trắc tài nguyên nước và cảnh báo, dự báo nguồn nước.Là căn cứ lập dự toán, tổ chức nhiệm vụ quan trắc, cảnh báo, dự báo nguồn nước, bao gồm cả nước dưới đất khi triển khai nhiệm vụ kỹ thuật.
Chuẩn dữ liệu quốc gia về tài nguyên nướcThông tư 64/2025/TT-BNNMT quy định kỹ thuật về cấu trúc, chuẩn dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước.Là văn bản rất quan trọng cho chuyển đổi số ngành nước, chuẩn hóa dữ liệu lỗ khoan, địa tầng, tầng chứa nước, công trình khai thác, quan trắc, giấy phép và dữ liệu tài nguyên nước.

Cùng với hoàn thiện thể chế, yêu cầu xây dựng hệ thống dữ liệu tài nguyên nước quốc gia, quan trắc, cảnh báo, dự báo nguồn nước và chia sẻ dữ liệu giữa các ngành, địa phương, lưu vực sông là trụ cột quan trọng của quản trị nước hiện đại. Các quy định mới về định mức quan trắc, cảnh báo, dự báo nguồn nước và chuẩn dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước tạo tiền đề để chuyển từ quản lý hồ sơ, báo cáo phân tán sang quản lý dựa trên dữ liệu số, kết nối điều tra cơ bản, quan trắc, giấy phép, khai thác sử dụng nước, chất lượng nước và vận hành công trình.

3. Đánh giá tính thống nhất của hệ thống văn bản

3.1. Thống nhất về mục tiêu chiến lược

Về mục tiêu chiến lược, các văn bản hiện hành thể hiện sự thống nhất tương đối cao trong định hướng bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường nước và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Nhìn tổng thể, hệ thống chủ trương, chính sách và pháp luật về tài nguyên nước, thủy lợi hiện nay có mức độ thống nhất tương đối cao về mục tiêu chiến lược. Các văn bản đều hướng tới bảo đảm an ninh nguồn nước, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu; bảo vệ chất lượng nước; tăng cường tích trữ, điều hòa, phân phối nguồn nước; bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước; phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trục định hướng này được thể hiện từ Nghị quyết 24-NQ/TW, Kết luận 36-KL/TW đến Luật Tài nguyên nước 2023, Luật Thủy lợi 2017 và các quy hoạch ngành quốc gia.

3.2. Thống nhất về thứ bậc pháp lý

Chủ trương của Đảng → Luật của Quốc hội → Nghị định của Chính phủ → Quyết định của Thủ tướng → Thông tư của bộ → quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức.

Về thứ bậc pháp lý, các văn bản cơ bản hình thành được chuỗi tương đối rõ: chủ trương của Đảng định hướng chiến lược; luật của Quốc hội xác lập nguyên tắc và khuôn khổ pháp lý; nghị định của Chính phủ quy định chi tiết; quyết định của Thủ tướng phê duyệt quy hoạch, kế hoạch hành động; thông tư của bộ hướng dẫn kỹ thuật, định mức, phân cấp, chuẩn dữ liệu và quy trình thực hiện.

3.3. Những điểm giao thoa cần làm rõ

Tài nguyên nước – thủy lợi – môi trường – khí tượng thủy văn – phòng chống thiên tai – quy hoạch – đất đai.

Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm cần tiếp tục hoàn thiện. Thứ nhất, ranh giới giữa quản lý “tài nguyên nước” và quản lý “công trình thủy lợi” tuy đã rõ hơn nhưng trong thực tiễn vẫn có thể giao thoa ở các nội dung như điều hòa, phân phối nước, vận hành hồ chứa, cấp phép sử dụng nước, bảo vệ nguồn nước trong hệ thống công trình và chia sẻ dữ liệu vận hành. Thứ hai, quy hoạch tài nguyên nước và quy hoạch phòng chống thiên tai, thủy lợi đều là quy hoạch quan trọng, nhưng cần cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn để tránh trùng lặp dữ liệu, khác biệt chỉ tiêu và thiếu liên thông giữa quy hoạch nguồn nước với quy hoạch công trình.

3.4. Những khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện

Dữ liệu dùng chung, phân cấp lưu vực sông, vận hành liên hồ, nước dưới đất, phục hồi nguồn nước, cơ chế kinh tế về nước, hậu kiểm sau cấp phép.

Thứ ba, cơ chế kinh tế trong quản lý nước đã được đặt ra qua tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ dịch vụ công ích thủy lợi, nhưng cần tiếp tục hoàn thiện để khuyến khích sử dụng nước tiết kiệm, phục hồi nguồn nước, giảm thất thoát, nâng cao hiệu quả vận hành công trình và bảo đảm công bằng giữa các nhóm sử dụng nước.

Thứ tư, hệ thống dữ liệu, quan trắc, dự báo và chia sẻ thông tin đang được củng cố thông qua các thông tư năm 2025 về quan trắc tài nguyên nước, cảnh báo, dự báo nguồn nước và chuẩn dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước. Đây là bước tiến quan trọng, nhưng cần triển khai đồng bộ đến cấp lưu vực sông, vùng, tỉnh và các đơn vị vận hành công trình thủy lợi, thủy điện, cấp nước, môi trường.

Thứ năm, việc hợp nhất chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi và tài nguyên nước trong Bộ Nông nghiệp và Môi trường tạo điều kiện thuận lợi để giảm phân tán đầu mối, nhưng cũng đặt ra yêu cầu rà soát lại các quy trình nội bộ, phân cấp, phân quyền, cơ chế phối hợp giữa các đơn vị thuộc bộ, địa phương và các tổ chức lưu vực sông.

Ngoài ra, hệ thống quy hoạch hiện nay đã hình thành khá đầy đủ theo ba lớp: quy hoạch quốc gia – quy hoạch ngành quốc gia – quy hoạch vùng/tỉnh/lưu vực sông. Trong lĩnh vực nước, Quy hoạch tài nguyên nước và Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi là hai quy hoạch ngành quốc gia có quan hệ rất chặt chẽ. Quy hoạch tài nguyên nước trả lời câu hỏi “nguồn nước ở đâu, khả năng bao nhiêu, phân bổ thế nào, cần bảo vệ ra sao”; trong khi Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi trả lời câu hỏi “cần hệ thống công trình, phi công trình, vận hành, phòng chống rủi ro và cấp – tiêu – thoát nước như thế nào”.

Tuy nhiên, điểm cần tiếp tục hoàn thiện là liên thông dữ liệu và chỉ tiêu giữa các loại quy hoạch. Nhiều quy hoạch tỉnh có đề cập phát triển công nghiệp, đô thị, nông nghiệp, du lịch, cấp nước, thoát nước nhưng chưa luôn thể hiện rõ khả năng đáp ứng nguồn nước, ngưỡng khai thác nước dưới đất, dòng chảy tối thiểu, khả năng tiếp nhận nước thải, rủi ro hạn hán – xâm nhập mặn – sụt lún. Đây là khoảng trống cần khắc phục khi rà soát, điều chỉnh quy hoạch trong giai đoạn tới.

4. Các giải pháp bổ sung

Một là, xây dựng ma trận rà soát văn bản theo chuỗi quản lý nước. Cần lập bảng đối chiếu giữa Luật Tài nguyên nước, Luật Thủy lợi, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng chống thiên tai, Luật Đê điều, Luật Quy hoạch và các nghị định, thông tư liên quan. Ma trận này nên chỉ rõ nội dung nào thuộc quản lý nguồn nước, nội dung nào thuộc quản lý công trình, nội dung nào giao thoa và nội dung nào còn thiếu hướng dẫn.

Hai là, thống nhất cơ chế phối hợp giữa quy hoạch tài nguyên nước và quy hoạch phòng chống thiên tai, thủy lợi. Quy hoạch tài nguyên nước cần cung cấp nền tảng về khả năng nguồn nước, ngưỡng khai thác, dòng chảy tối thiểu, phân vùng thiếu nước, phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất. Quy hoạch phòng chống thiên tai và thủy lợi cần chuyển hóa các thông tin đó thành giải pháp công trình, phi công trình, vận hành, tích trữ, tiêu thoát, cấp nước và phòng chống rủi ro.

Ba là, xây dựng hệ thống dữ liệu nước dùng chung. Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia có thể đề xuất vai trò đầu mối kỹ thuật trong xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia, kết nối dữ liệu điều tra cơ bản, quan trắc, giấy phép, khai thác sử dụng nước, chất lượng nước, nước dưới đất, hạn hán, xâm nhập mặn, vận hành hồ chứa và công trình thủy lợi. Việc này phù hợp với xu hướng chuẩn hóa dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước đã được quy định trong Thông tư số 64/2025/TT-BNNMT.

Bốn là, tăng cường điều tra cơ bản và cảnh báo, dự báo nguồn nước. Cần ưu tiên các vùng đang chịu áp lực lớn như Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, miền núi phía Bắc, các đô thị lớn và các lưu vực sông liên tỉnh, xuyên biên giới. Nội dung điều tra cần gắn với dự báo hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, sụt lún do khai thác nước dưới đất, suy thoái chất lượng nước và khả năng phục hồi nguồn nước.

Năm là, hoàn thiện cơ chế kinh tế về nước. Cần tiếp tục cụ thể hóa tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, giá dịch vụ thủy lợi, hỗ trợ dịch vụ công ích thủy lợi và cơ chế tài chính cho bảo vệ, phục hồi nguồn nước. Mục tiêu không chỉ là thu ngân sách, mà phải tạo động lực sử dụng nước tiết kiệm, giảm thất thoát, nâng cấp công trình và bảo vệ hệ sinh thái nguồn nước.

Sáu là, tăng cường thanh tra, kiểm tra và hậu kiểm. Việc cấp phép khai thác, sử dụng nước, hành nghề khoan nước dưới đất, bảo vệ công trình thủy lợi, an toàn đập, hồ chứa nước và xả thải vào nguồn nước cần được kiểm soát bằng dữ liệu số, quan trắc tự động và cơ chế hậu kiểm thường xuyên. Các nghị định xử phạt hiện có cần được rà soát định kỳ để bảo đảm đủ sức răn đe và phù hợp với Luật Tài nguyên nước 2023.

Bảy là, nâng cao năng lực quản trị theo lưu vực sông. Quản lý nước cần chuyển mạnh từ quản lý theo địa giới hành chính sang quản lý kết hợp theo lưu vực sông, nguồn nước và vùng kinh tế – sinh thái. Việc phân cấp cho địa phương cần đi kèm chuẩn dữ liệu, chuẩn kỹ thuật, cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình.

Tám là, xác lập bộ chỉ tiêu an ninh nguồn nước quốc gia và cấp lưu vực. Bộ chỉ tiêu có thể bao gồm: mức độ bảo đảm nước sinh hoạt; tỷ lệ nguồn nước được quan trắc; tỷ lệ khai thác nước dưới đất so với ngưỡng cho phép; mức độ suy giảm mực nước dưới đất; tỷ lệ hồ chứa được kiểm định an toàn; mức độ đáp ứng cấp nước trong hạn hán; tỷ lệ dữ liệu được chia sẻ giữa các cơ quan; và mức độ phục hồi các nguồn nước bị suy thoái.

5. Kết luận và kiến nghị

Hệ thống chủ trương, chính sách và pháp luật về thủy lợi, tài nguyên nước của Việt Nam đã hình thành khá đầy đủ, bao gồm định hướng chiến lược của Đảng, luật của Quốc hội, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng và thông tư hướng dẫn của các bộ. Điểm nổi bật là tư duy quản lý đã chuyển từ khai thác, sử dụng nước đơn ngành sang quản trị tổng hợp, bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn công trình, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là phải nâng cao tính liên thông giữa quản lý tài nguyên nước và quản lý thủy lợi; giữa quy hoạch nguồn nước và quy hoạch công trình; giữa dữ liệu điều tra cơ bản và dữ liệu vận hành; giữa cấp phép, thanh tra, quan trắc và hậu kiểm; giữa quản lý theo địa giới hành chính và quản lý theo lưu vực sông.

Kiến nghị Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo rà soát tổng thể hệ thống văn bản dưới luật sau khi Luật Tài nguyên nước 2023 có hiệu lực và sau khi tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước theo Nghị định số 35/2025/NĐ-CP; ưu tiên xử lý các điểm giao thoa giữa tài nguyên nước, thủy lợi, môi trường, phòng chống thiên tai, khí tượng thủy văn và quy hoạch.

Kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng cơ chế phối hợp thống nhất giữa các đơn vị quản lý tài nguyên nước, thủy lợi, phòng chống thiên tai, môi trường, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu; đồng thời đẩy mạnh chuẩn hóa dữ liệu, số hóa quy hoạch, quan trắc, dự báo, cảnh báo và giám sát khai thác sử dụng nước.

Kiến nghị Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia phát huy vai trò kỹ thuật nòng cốt trong điều tra cơ bản, xây dựng cơ sở dữ liệu, đánh giá tài nguyên nước, lập quy hoạch tài nguyên nước, dự báo nguồn nước, phân vùng khai thác nước dưới đất, đánh giá an ninh nguồn nước và cung cấp luận cứ khoa học cho việc điều hòa, phân phối, bảo vệ, phục hồi nguồn nước trên phạm vi quốc gia và theo lưu vực sông.

Kiến nghị các địa phương và đơn vị quản lý công trình tăng cường chia sẻ dữ liệu, phối hợp vận hành công trình thủy lợi, hồ chứa, hệ thống cấp nước, tiêu thoát nước và phòng chống thiên tai theo quy hoạch được duyệt; đồng thời gắn trách nhiệm quản lý công trình với bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường và an toàn cộng đồng.

Một số nhiệm vụ ưu tiên đề xuất giao Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia nghiên cứu, tham mưu.

  1. Lập phụ lục danh mục văn bản pháp luật và quy hoạch về nước dưới đất gồm đầy đủ thông tư, quy chuẩn, nghị định, quyết định phê duyệt quy hoạch và tình trạng hiệu lực của từng văn bản.
  2. Rà soát các thông tư kỹ thuật ban hành trước Luật Tài nguyên nước 2023, nhất là các văn bản về đăng ký khai thác nước dưới đất, hành nghề khoan, bảo vệ nước dưới đất, trám lấp giếng, quan trắc và điều tra đánh giá, để xác định nội dung còn phù hợp, nội dung cần sửa đổi, thay thế hoặc hợp nhất.
  3. Xây dựng ma trận liên thông quy hoạch, trong đó đối chiếu Quy hoạch tài nguyên nước, Quy hoạch phòng chống thiên tai và thủy lợi, quy hoạch tổng hợp lưu vực sông, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh theo các tiêu chí: nguồn nước, nhu cầu nước, công trình điều tiết, khai thác nước dưới đất, vùng hạn chế khai thác, bảo vệ chất lượng nước, phòng chống hạn – lũ – mặn – ngập.
  4. Ưu tiên chuẩn hóa dữ liệu nước dưới đất theo Thông tư 64/2025/TT-BNNMT, đặc biệt là dữ liệu lỗ khoan, địa tầng, tầng chứa nước, mực nước, chất lượng nước, công trình khai thác, giấy phép, vùng hạn chế khai thác, vùng bảo hộ vệ sinh và giếng cần trám lấp.
  5. Giao Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia vai trò đầu mối kỹ thuật trong việc tổng hợp, kiểm tra, chuẩn hóa và phân tích dữ liệu nước dưới đất phục vụ quy hoạch tài nguyên nước, quy hoạch lưu vực sông, quy hoạch tỉnh và cảnh báo an ninh nguồn nước.

Tóm lại, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới không chỉ là ban hành thêm văn bản, mà là làm cho hệ thống văn bản hiện có vận hành thống nhất, có dữ liệu chung, có trách nhiệm rõ, có công cụ kinh tế phù hợp, có cơ chế phối hợp hiệu quả và có năng lực dự báo đủ mạnh để bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia trong điều kiện biến đổi khí hậu và phát triển mới.