Đỗ Đức Dũng 16/05/2026
Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, TP. Hồ Chí Minh mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu. Thành phố mới có diện tích khoảng 6.772 km², dân số trên 14 triệu người, chính thức vận hành từ ngày 1/7/2025. Đây không chỉ là sự mở rộng địa giới hành chính, mà là sự hình thành một siêu đô thị – công nghiệp – cảng biển – nông nghiệp – sinh thái có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cả nước.
TP. Hồ Chí Minh mới không còn là một đô thị trung tâm thuần túy, mà trở thành một không gian phát triển rất rộng, bao gồm vùng lõi đô thị, vùng công nghiệp Bình Dương, vùng cảng biển – dầu khí – du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu, vùng nông nghiệp ven đô, hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai và vùng biển Đông Nam Bộ. Sự hợp nhất này tạo ra cơ hội rất lớn, nhưng cũng đặt ra những thách thức rất phức tạp về nông nghiệp, thủy lợi, tài nguyên nước và môi trường.
Một không gian phát triển đặc biệt của cả nước
Điểm nổi bật nhất của TP. Hồ Chí Minh mới là sự kết hợp giữa ba vùng có tính bổ sung rất mạnh. TP. Hồ Chí Minh cũ là trung tâm dịch vụ, tài chính, khoa học công nghệ, thương mại và đô thị lớn nhất cả nước. Bình Dương cũ là một trong những trung tâm công nghiệp mạnh nhất Việt Nam, có tốc độ đô thị hóa rất cao. Bà Rịa – Vũng Tàu bổ sung không gian biển, cảng nước sâu, dầu khí, logistics, thủy sản, du lịch và vùng sinh thái ven biển.
Nhờ sự kết hợp đó, TP. Hồ Chí Minh mới có đầy đủ các không gian: đô thị đặc biệt, công nghiệp, logistics, cảng biển, nông nghiệp ven đô, thủy sản, rừng ngập mặn, sông lớn, cửa sông và biển. Đây là cấu trúc phát triển rất hiếm ở Việt Nam, tạo điều kiện để hình thành một trung tâm kinh tế tổng hợp quy mô quốc tế.
Tuy nhiên, chính sự đa dạng đó cũng làm cho quản lý phát triển trở nên khó khăn hơn. Nếu không có quy hoạch tích hợp tốt, thành phố mới rất dễ đối mặt với xung đột giữa công nghiệp, đô thị, nông nghiệp, cảng biển, môi trường và an ninh nguồn nước.
Nông nghiệp: từ nông nghiệp ven đô đến nông nghiệp công nghệ cao và thủy sản
Trong cấu trúc mới, nông nghiệp không còn là khu vực chiếm tỷ trọng kinh tế lớn, nhưng lại giữ vai trò rất quan trọng về an ninh thực phẩm, sinh thái đô thị, không gian xanh và cân bằng phát triển. TP. Hồ Chí Minh cũ có các vùng nông nghiệp ven đô như Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Cần Giờ, Nhà Bè, với thế mạnh về rau an toàn, hoa lan, bò sữa, thủy sản, cây cảnh và nông nghiệp công nghệ cao.
Bình Dương cũ bổ sung các vùng cây ăn quả, cao su, nông nghiệp đô thị, nông nghiệp ứng dụng công nghệ và vùng đệm sinh thái giữa công nghiệp với khu dân cư. Bà Rịa – Vũng Tàu bổ sung thế mạnh về thủy sản biển, nuôi trồng thủy sản, khai thác hải sản, cây ăn quả, hồ tiêu, nông nghiệp ven biển và du lịch sinh thái.
Sau hợp nhất, TP. Hồ Chí Minh mới có điều kiện phát triển một nền nông nghiệp rất đặc thù: nông nghiệp đô thị – nông nghiệp công nghệ cao – nông nghiệp sinh thái – thủy sản biển – nông nghiệp phục vụ du lịch và thị trường lớn. Đây không phải là mô hình nông nghiệp mở rộng diện tích, mà là mô hình nông nghiệp giá trị cao, tiết kiệm đất, tiết kiệm nước, an toàn thực phẩm và gắn với chuỗi cung ứng đô thị.
Lợi thế lớn nhất của nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh mới là thị trường tiêu thụ khổng lồ. Với dân số trên 14 triệu người, cộng thêm khách du lịch, khu công nghiệp, cảng biển và hệ thống dịch vụ, nhu cầu thực phẩm an toàn, nông sản chất lượng cao, thủy sản, hoa cây cảnh và thực phẩm chế biến là rất lớn. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển chuỗi lạnh, logistics nông sản, chế biến thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và nông nghiệp tuần hoàn.
Tuy nhiên, khó khăn cũng rất rõ. Đất nông nghiệp bị cạnh tranh gay gắt bởi đô thị hóa, khu công nghiệp, giao thông, logistics và bất động sản. Sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sẽ ngày càng khó tồn tại nếu không chuyển sang công nghệ cao, liên kết chuỗi và kiểm soát chất lượng. Ngoài ra, chất thải chăn nuôi, nước thải nông nghiệp, ô nhiễm kênh rạch và suy giảm đất nông nghiệp là những vấn đề cần được kiểm soát nghiêm ngặt.
Thủy lợi và tài nguyên nước: bài toán sống còn của siêu đô thị
Với TP. Hồ Chí Minh mới, thủy lợi không thể hiểu theo nghĩa hẹp là tưới tiêu nông nghiệp. Đây là hệ thống quản lý nước tổng hợp cho một siêu đô thị, một vùng công nghiệp lớn và một không gian ven biển – cửa sông rất nhạy cảm.
Thành phố chịu ảnh hưởng trực tiếp của hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai, sông Thị Vải, sông Dinh, các kênh rạch nội đô, vùng triều, vùng cửa sông và biển. Nước vừa là nguồn cấp cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, cảng biển, du lịch, vừa là yếu tố gây ngập, ô nhiễm, xâm nhập mặn và rủi ro thiên tai.
Sau hợp nhất, bài toán nước của TP. Hồ Chí Minh mới có ít nhất năm tầng vấn đề. Thứ nhất là cấp nước an toàn cho dân số rất lớn và các khu công nghiệp. Thứ hai là tiêu thoát nước và chống ngập đô thị. Thứ ba là kiểm soát ô nhiễm sông, kênh rạch và nước thải công nghiệp. Thứ tư là ứng phó triều cường, nước biển dâng và xâm nhập mặn. Thứ năm là bảo vệ các vùng sinh thái nước như Cần Giờ, cửa sông, ven biển và các hồ chứa thượng nguồn.
Bình Dương cũ có vai trò quan trọng trong hành lang sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, nơi tập trung nhiều khu công nghiệp và đô thị mới. Bà Rịa – Vũng Tàu lại là vùng cửa ngõ ra biển, có hệ thống cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải, vùng nuôi trồng thủy sản, du lịch ven biển và khu công nghiệp ven biển. Vì vậy, quản lý nước của thành phố mới phải vượt qua cách tiếp cận cục bộ theo địa giới cũ, chuyển sang quản lý theo lưu vực và vùng chức năng.
Thách thức lớn nhất là mâu thuẫn giữa nhu cầu nước tăng rất nhanh và chất lượng nước suy giảm. Nếu nước thải đô thị, nước thải công nghiệp, nước thải cảng biển, nước thải chăn nuôi và nước thải sinh hoạt không được xử lý tốt, toàn bộ hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai – Thị Vải sẽ chịu áp lực rất lớn. Khi đó, nông nghiệp sạch, thủy sản, du lịch, cấp nước và sức khỏe cộng đồng đều bị ảnh hưởng.
Môi trường: điều kiện sống còn của phát triển
Môi trường là vấn đề then chốt của TP. Hồ Chí Minh mới. Thành phố mới vừa có mật độ dân số rất cao, vừa có công nghiệp lớn, cảng biển, giao thông dày đặc, đô thị hóa nhanh, du lịch biển, nông nghiệp ven đô và hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ.
Áp lực môi trường có thể chia thành năm nhóm lớn. Nhóm thứ nhất là ô nhiễm không khí do giao thông, xây dựng, công nghiệp và đô thị hóa. Nhóm thứ hai là ô nhiễm nước sông, kênh rạch, đặc biệt tại vùng đô thị lõi và các khu công nghiệp. Nhóm thứ ba là chất thải rắn, rác thải nhựa và chất thải sinh hoạt của một siêu đô thị trên 14 triệu dân. Nhóm thứ tư là áp lực môi trường cảng biển, dầu khí, logistics, du lịch và công nghiệp ven biển. Nhóm thứ năm là suy giảm hệ sinh thái tự nhiên, đặc biệt là rừng ngập mặn, vùng cửa sông và vùng ven biển.
Trong bức tranh đó, Cần Giờ có vai trò đặc biệt. Đây không chỉ là “lá phổi xanh” của TP. Hồ Chí Minh mà còn là vùng đệm sinh thái quan trọng trước triều cường, nước biển dâng, bão và xâm nhập mặn. Nếu phát triển ven biển không kiểm soát tốt, rừng ngập mặn, thủy sản, đa dạng sinh học và khả năng phòng hộ tự nhiên sẽ bị suy giảm.
Bà Rịa – Vũng Tàu cũ cũng đặt ra yêu cầu rất cao về bảo vệ môi trường biển. Cảng biển, dầu khí, công nghiệp, du lịch và thủy sản đều phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng nước biển, vùng cửa sông và hệ sinh thái ven bờ. Vì vậy, môi trường biển phải được xem là tài sản chiến lược, không chỉ là vấn đề xử lý ô nhiễm.
Thuận lợi lớn sau hợp nhất
Thuận lợi lớn nhất của TP. Hồ Chí Minh mới là quy mô và tính bổ sung giữa ba vùng. Thành phố có đô thị lớn, công nghiệp mạnh, cảng biển nước sâu, sân bay, logistics, thị trường tiêu thụ khổng lồ, nguồn nhân lực chất lượng cao và không gian biển. Đây là nền tảng rất mạnh để phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chế biến thực phẩm, kinh tế biển, logistics nông sản và quản trị môi trường hiện đại.
Thuận lợi thứ hai là khả năng hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Nông sản, thủy sản và thực phẩm có thể được sản xuất ở vùng ven đô và ven biển, chế biến trong các khu công nghiệp, phân phối qua logistics hiện đại và xuất khẩu qua cảng biển. Đây là lợi thế rất lớn so với nhiều địa phương khác.
Thuận lợi thứ ba là tiềm lực khoa học, công nghệ và tài chính. TP. Hồ Chí Minh mới có điều kiện để đầu tư vào nông nghiệp thông minh, quan trắc nước tự động, xử lý nước thải, tái sử dụng nước, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi xanh và quản lý môi trường bằng dữ liệu số.
Khó khăn, thách thức chủ yếu
Thách thức lớn nhất là áp lực phát triển quá nhanh. Khi đô thị, công nghiệp, cảng biển, logistics và dân số cùng tăng, tài nguyên đất, nước và môi trường sẽ chịu sức ép rất lớn. Nếu quy hoạch không chặt, thành phố mới có thể đánh mất các vùng đệm sinh thái quan trọng.
Thách thức thứ hai là ngập đô thị, triều cường và nước biển dâng. Đây là vấn đề rất nghiêm trọng đối với vùng thấp, vùng ven sông, ven biển và khu vực nội đô cũ.
Thách thức thứ ba là ô nhiễm nước. Hệ thống sông, kênh rạch và vùng cửa sông có thể trở thành nơi tiếp nhận quá nhiều nguồn thải nếu thiếu kiểm soát liên vùng.
Thách thức thứ tư là quản trị sau hợp nhất. Ba địa phương cũ có hệ thống quy hoạch, dữ liệu, hạ tầng, chính sách và mô hình quản lý khác nhau. Muốn vận hành hiệu quả, thành phố mới phải nhanh chóng thống nhất cơ sở dữ liệu về đất, nước, môi trường, nông nghiệp, công nghiệp, cảng biển, nguồn thải và rủi ro thiên tai.
Hướng đi phù hợp trong tương lai
TP. Hồ Chí Minh mới nên phát triển theo hướng: siêu đô thị xanh – công nghiệp sạch – nông nghiệp công nghệ cao – thủy lợi thông minh – kinh tế biển bền vững.
Về nông nghiệp, cần ưu tiên nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao, thực phẩm an toàn, hoa cây cảnh, thủy sản, nông nghiệp sinh thái Cần Giờ và chuỗi chế biến thực phẩm hiện đại.
Về thủy lợi, cần chuyển sang quản lý nước theo lưu vực, kết hợp chống ngập, kiểm soát triều, cấp nước an toàn, tái sử dụng nước, bảo vệ nguồn nước và quan trắc chất lượng nước tự động.
Về môi trường, cần kiểm soát nghiêm nước thải công nghiệp, đô thị, cảng biển, chăn nuôi và du lịch; đồng thời bảo vệ rừng ngập mặn Cần Giờ, vùng cửa sông, biển Vũng Tàu và hệ thống kênh rạch nội đô.
Nhận định tổng quát
TP. Hồ Chí Minh mới có tiềm năng trở thành một trong những siêu đô thị kinh tế biển – công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp công nghệ cao hàng đầu Đông Nam Á. Lợi thế lớn nhất là quy mô thị trường, hạ tầng, cảng biển, công nghiệp, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và vị trí chiến lược.
Nhưng điểm nghẽn lớn nhất cũng rất rõ: ngập đô thị, ô nhiễm nước, áp lực dân số, suy giảm đất nông nghiệp, rủi ro môi trường biển, triều cường và biến đổi khí hậu.
Nói ngắn gọn, TP. Hồ Chí Minh mới muốn phát triển bền vững thì phải coi nông nghiệp – thủy lợi – môi trường là nền tảng sinh thái của toàn bộ mô hình siêu đô thị. Với thành phố mới, nước là an ninh, môi trường là chất lượng sống, nông nghiệp là vùng đệm sinh thái, còn biển và cảng là không gian phát triển chiến lược trong dài hạn.

