Skip to content

ĐÔI NÉT VỀ TP. ĐÀ NẴNG

 Đỗ Đức Dũng 16/05/2026

Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, thành phố Đà Nẵng bước vào một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của thành phố Đà Nẵng cũtỉnh Quảng Nam cũ được sắp xếp thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Đà Nẵng. Sau sắp xếp, Đà Nẵng có diện tích tự nhiên 11.859,59 km², dân số 3.065.628 người. Thành phố mới có 94 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 23 phường, 70 xã và 1 đặc khu Hoàng Sa. Đây là căn cứ pháp lý và số liệu nền quan trọng nhất khi nhìn nhận lại nông nghiệp, thủy lợi và môi trường của Đà Nẵng trong giai đoạn mới.

Điểm đặc biệt là Đà Nẵng sau sáp nhập không còn chỉ là một đô thị ven biển hiện đại như trước đây. Thành phố mới đã mở rộng thành một không gian phát triển rất lớn, kéo dài từ miền núi phía Tây Trường Sơn, qua trung du, đồng bằng ven sông Vu Gia – Thu Bồn, xuống vùng ven biển, đô thị, cảng biển, khu kinh tế, di sản Hội An – Mỹ Sơn, Cù Lao Chàm và đặc khu Hoàng Sa. Nói một cách ngắn gọn, Đà Nẵng mới là sự kết hợp giữa đô thị biển hiện đạikhông gian nông nghiệp – rừng – sông – di sản rộng lớn của Quảng Nam cũ.

Sự thay đổi này tạo ra một lợi thế rất lớn, nhưng cũng làm cho bài toán quản lý nông nghiệp, thủy lợi và môi trường phức tạp hơn nhiều. Đà Nẵng mới vừa phải giữ vai trò trung tâm dịch vụ, du lịch, công nghiệp và logistics của miền Trung, vừa phải quản lý một vùng nông nghiệp rộng, một hệ thống rừng đầu nguồn lớn, một lưu vực sông quan trọng và một vùng biển – đảo rất nhạy cảm về môi trường.

Một không gian phát triển mới: từ đô thị biển đến rừng đầu nguồn và lưu vực Vu Gia – Thu Bồn

Trước sáp nhập, Đà Nẵng cũ nổi bật với đô thị hiện đại, du lịch biển, công nghiệp công nghệ cao, cảng biển, dịch vụ logistics và môi trường đô thị tương đối tốt. Quảng Nam cũ lại có thế mạnh về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, rừng đầu nguồn, di sản Hội An – Mỹ Sơn, Cù Lao Chàm, vùng trung du, miền núi và hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn.

Khi hai không gian này hợp nhất, Đà Nẵng mới hình thành một cấu trúc phát triển rất đặc biệt: phía Tây là rừng, núi, thủy điện, nguồn nước và vùng đồng bào dân tộc; vùng giữa là nông nghiệp, làng nghề, đô thị di sản và các khu sản xuất; phía Đông là biển, đô thị, cảng, du lịch và dịch vụ quốc tế.

Cấu trúc này tạo điều kiện để Đà Nẵng phát triển theo hướng đô thị sinh thái, kinh tế biển, nông nghiệp xanh, du lịch di sản và quản lý tài nguyên nước theo lưu vực. Tuy nhiên, nếu phát triển thiếu cân bằng, thành phố sẽ đối mặt với nhiều rủi ro: mất rừng đầu nguồn, thiếu nước mùa khô, lũ lớn mùa mưa, ô nhiễm sông – biển, suy giảm đất nông nghiệp, quá tải rác thải và áp lực đô thị hóa ven biển.

Vì vậy, với Đà Nẵng mới, nông nghiệp – thủy lợi – môi trường không còn là nhóm lĩnh vực “phía sau” đô thị, mà chính là nền tảng sinh thái cho sự phát triển bền vững của toàn thành phố.

Nông nghiệp Đà Nẵng: không lớn về tỷ trọng kinh tế nhưng rất quan trọng về sinh thái và sinh kế

Trong cơ cấu kinh tế của Đà Nẵng mới, nông nghiệp không phải là khu vực chiếm tỷ trọng lớn như dịch vụ hay công nghiệp. Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn giữ vai trò rất quan trọng về sinh kế nông thôn, an ninh thực phẩm, bảo vệ cảnh quan, giữ đất, giữ nước và tạo vùng đệm sinh thái cho đô thị.

Theo số liệu năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của Đà Nẵng ước tăng trưởng 3,27%, đóng góp 0,21 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP chung. Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm đạt khoảng 150,2 nghìn ha; trong đó diện tích lúa đạt 87,6 nghìn ha, năng suất bình quân 58,4 tạ/ha, sản lượng hơn 511 nghìn tấn. Những con số này cho thấy, sau sáp nhập, Đà Nẵng không chỉ là thành phố dịch vụ – du lịch, mà vẫn có một nền sản xuất nông nghiệp đáng kể, nhất là ở khu vực Quảng Nam cũ.

Nông nghiệp Đà Nẵng mới có thể chia thành ba không gian chính. Vùng đồng bằng và ven sông phát triển lúa, rau màu, cây thực phẩm, chăn nuôi và thủy sản nước ngọt. Vùng trung du và miền núi có lợi thế về cây ăn quả, cây công nghiệp, dược liệu, sâm Ngọc Linh, kinh tế rừng, chăn nuôi và sản phẩm OCOP. Vùng ven biển và hải đảo phát triển thủy sản, nuôi trồng nước lợ, du lịch cộng đồng, dịch vụ hậu cần nghề cá và kinh tế biển.

Một hướng đi rất đáng chú ý là nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp gắn du lịch. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 diện tích đất nông nghiệp hữu cơ đạt 2,5 – 3% tổng diện tích đất nông nghiệp, tương đương khoảng 2.485 ha; trong đó ưu tiên lúa, rau đậu, cây ăn quả, chè, tiêu, cau, sâm Ngọc Linh và dược liệu. Thành phố cũng định hướng phát triển ít nhất 10 sản phẩm nông nghiệp hữu cơ chủ lực16 mô hình nông nghiệp hữu cơ gắn với du lịch trải nghiệm, giáo dục sinh thái.

Đây là hướng đi phù hợp. Với một thành phố có thế mạnh lớn về du lịch, di sản và dịch vụ như Đà Nẵng, nông nghiệp không nên cạnh tranh bằng sản lượng thô, mà nên đi theo hướng nông nghiệp chất lượng cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp cảnh quan, nông nghiệp du lịch và nông nghiệp sinh thái.

Đặc biệt, sau sáp nhập, Đà Nẵng có thêm không gian rộng lớn để phát triển sâm Ngọc Linh, dược liệu, cây bản địa và sản phẩm miền núi. Đây là nhóm sản phẩm có giá trị cao, phù hợp với điều kiện sinh thái vùng núi Quảng Nam cũ, nhưng cần kiểm soát chặt về nguồn giống, vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ rừng và quyền lợi của cộng đồng địa phương.

Thủy sản và kinh tế biển: lợi thế lớn nhưng phải phát triển bền vững

Với bờ biển dài, cảng biển, vùng ven bờ, Cù Lao Chàm, Hội An, Núi Thành, Tam Kỳ cũ, Đà Nẵng mới có không gian thủy sản và kinh tế biển rộng hơn nhiều so với trước đây. Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản của thành phố đạt 166,8 nghìn tấn, tăng 0,8% so với năm trước; trong đó khai thác thủy sản đạt 136,6 nghìn tấn, khai thác biển gần 128 nghìn tấn, chiếm 93,6% sản lượng khai thác. Nuôi trồng thủy sản đạt trên 5,3 nghìn ha, sản lượng nuôi trồng đạt 30,2 nghìn tấn.

Đây là nguồn lực rất lớn cho sinh kế ven biển và kinh tế nông nghiệp – thủy sản. Tuy nhiên, cũng cần nhìn thẳng vào áp lực. Thành phố hiện có 4.469 tàu khai thác hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá, trong đó tàu hoạt động vùng ven bờ còn chiếm tỷ lệ cao. Điều này đặt ra yêu cầu phải giảm dần khai thác ven bờ, tăng khai thác xa bờ có kiểm soát, chống khai thác bất hợp pháp, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và phát triển nuôi biển theo hướng hiện đại, an toàn, thân thiện môi trường.

Với Đà Nẵng mới, thủy sản không chỉ là sản lượng cá, tôm hay tàu thuyền. Đó còn là câu chuyện về môi trường biển, sinh kế ngư dân, du lịch biển, cảng cá, chế biến thủy sản, bảo tồn Cù Lao Chàm và quản lý vùng ven bờ. Nếu biển bị ô nhiễm, nguồn lợi suy giảm, rác thải nhựa tăng hoặc khai thác ven bờ quá mức, cả du lịch, thủy sản và hình ảnh thành phố biển đều bị ảnh hưởng.

Thủy lợi và tài nguyên nước: trục sống của Đà Nẵng mới

Nếu nông nghiệp là nền sản xuất, thì nước là trục sống của Đà Nẵng mới. Hệ thống sông quan trọng nhất là Vu Gia – Thu Bồn, một trong các lưu vực sông lớn của Việt Nam, có tổng diện tích lưu vực khoảng 10.035 km². Lưu vực này cung cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt, công nghiệp, đô thị, du lịch, thủy điện, nông nghiệp và duy trì hệ sinh thái vùng hạ du.

Điểm đặc biệt là hệ thống Vu Gia – Thu Bồn không chỉ phục vụ một địa phương. Trước đây, nó liên quan trực tiếp đến cả Quảng Nam và Đà Nẵng cũ; sau sáp nhập, phần lớn bài toán lưu vực đã nằm trong cùng một thành phố mới. Đây là thuận lợi lớn về quản lý, vì nhiều vấn đề trước đây phải phối hợp liên tỉnh nay có thể được điều hành thống nhất hơn.

Tuy nhiên, lưu vực Vu Gia – Thu Bồn cũng là một trong những hệ thống sông rất phức tạp. Phía thượng nguồn có rừng, thủy điện, hồ chứa, địa hình dốc; phía hạ du có đồng bằng, đô thị, Hội An, Đà Nẵng, Cửa Đại, Cửa Hàn và vùng ven biển. Mùa mưa thường có lũ lớn, lũ nhanh, ngập sâu; mùa khô lại có nguy cơ thiếu nước, xâm nhập mặn và cạnh tranh nước giữa phát điện, nông nghiệp, đô thị, du lịch và môi trường.

Chính vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1865/QĐ-TTg về quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn. Đây là căn cứ rất quan trọng cho việc điều tiết hồ chứa, giảm lũ hạ du, cấp nước mùa cạn và bảo đảm an toàn công trình.

Ở khu vực Quảng Nam cũ, hệ thống thủy lợi có quy mô đáng kể. Trước sáp nhập, địa bàn này có 73 hồ chứa nước thủy lợi, gồm 22 hồ lớn, 21 hồ vừa và 20 hồ nhỏ. Qua kiểm tra, nhiều hồ chứa đã xuất hiện tình trạng thấm đập, sạt trượt mái, hư hỏng tràn xả lũ, thân cống, dàn van và cần sửa chữa, nâng cấp để bảo đảm an toàn mùa mưa lũ.

Như vậy, thủy lợi Đà Nẵng mới không thể chỉ hiểu là tưới tiêu nông nghiệp. Đó là hệ thống quản lý nước tổng hợp cho cả lưu vực, bao gồm: cấp nước đô thị, cấp nước nông nghiệp, cấp nước công nghiệp, phòng chống lũ, chống hạn, kiểm soát mặn, bảo vệ hồ chứa, bảo vệ Hội An – Đà Nẵng hạ du và duy trì dòng chảy môi trường.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, bài toán thủy lợi của Đà Nẵng mới cần chuyển mạnh từ tư duy “công trình” sang tư duy “quản lý nước thông minh”. Điều này bao gồm quan trắc mưa – lũ – mực nước hồ – xâm nhập mặn theo thời gian thực, vận hành liên hồ hợp lý, bảo vệ rừng đầu nguồn, kiểm soát khai thác cát, bảo vệ hành lang sông và phục hồi không gian thoát lũ tự nhiên.

Môi trường: giữ thương hiệu thành phố môi trường trong không gian rộng hơn

Đà Nẵng cũ từng được biết đến như một trong những địa phương đi đầu về xây dựng “thành phố môi trường”. Sau sáp nhập, thương hiệu này đứng trước một thách thức mới: không gian quản lý môi trường mở rộng hơn rất nhiều, bao gồm đô thị hiện đại, khu công nghiệp, làng nghề, vùng nông thôn, miền núi, rừng đầu nguồn, di sản, cảng biển, vùng du lịch và vùng ven biển.

Một lợi thế rất lớn là diện tích rừng của Đà Nẵng mới tăng mạnh. Sau sáp nhập với Quảng Nam, thành phố trở thành một trong những địa phương có diện tích rừng lớn nhất cả nước, với gần 700.000 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên khoảng 500.000 ha, rừng trồng khoảng 184.000 ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt hơn 58%. Đây là nền tảng sinh thái rất quan trọng để giữ nước, giảm lũ, bảo vệ đất, bảo tồn đa dạng sinh học và tham gia thị trường tín chỉ carbon trong tương lai.

Tuy nhiên, môi trường Đà Nẵng mới cũng đối mặt với nhiều áp lực rõ rệt. Rừng miền núi chịu áp lực từ sinh kế, khai thác tài nguyên, hạ tầng, thủy điện và chuyển đổi đất. Vùng đồng bằng chịu áp lực từ nước thải sinh hoạt, chăn nuôi, làng nghề và nông nghiệp thâm canh. Vùng ven biển chịu áp lực từ du lịch, đô thị hóa, rác thải nhựa, nước thải, cảng biển và nuôi trồng thủy sản.

Vấn đề chất thải rắn là một thách thức rất đáng chú ý. Theo thông tin của Cổng thông tin điện tử Đà Nẵng, lượng chất thải rắn sinh hoạt toàn vùng hiện khoảng 1.652 tấn/ngày, dự báo tăng lên khoảng 2.093 tấn/ngày giai đoạn 2025–2030; tỷ lệ thu gom đạt khoảng 96–98%. Đây là con số lớn, đòi hỏi thành phố phải nhanh chóng chuyển từ xử lý rác chủ yếu bằng chôn lấp sang phân loại tại nguồn, tái chế, đốt phát điện, kinh tế tuần hoàn và xử lý tập trung hiện đại.

Một áp lực khác là môi trường nước. Hệ thống Vu Gia – Thu Bồn, sông Hàn, sông Cổ Cò, Cửa Đại, Cù Lao Chàm và vùng biển ven bờ đều rất nhạy cảm. Chỉ cần ô nhiễm từ thượng nguồn, đô thị, làng nghề, nuôi trồng thủy sản hoặc du lịch gia tăng, tác động sẽ lan truyền từ sông ra biển, ảnh hưởng đến nguồn nước, du lịch, thủy sản và sức khỏe cộng đồng.

Vì vậy, trong giai đoạn mới, Đà Nẵng không chỉ cần giữ sạch đô thị trung tâm, mà phải xây dựng một hệ thống quản lý môi trường đồng bộ cho toàn thành phố mới: từ rừng đầu nguồn đến đồng bằng, từ dòng sông đến biển, từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ làng nghề đến khu du lịch.

Thuận lợi lớn của Đà Nẵng mới

Thuận lợi lớn nhất là sự bổ sung rất mạnh giữa Đà Nẵng cũ và Quảng Nam cũ. Đà Nẵng cũ có hạ tầng đô thị, cảng biển, sân bay, công nghiệp, dịch vụ, du lịch và năng lực quản trị đô thị. Quảng Nam cũ có đất đai rộng, nông nghiệp, rừng, di sản, miền núi, sông Vu Gia – Thu Bồn, Cù Lao Chàm, Hội An, Mỹ Sơn và không gian phát triển dài hạn.

Thuận lợi thứ hai là Đà Nẵng mới có thể quản lý thống nhất hơn lưu vực Vu Gia – Thu Bồn. Đây là lợi thế rất lớn so với trước đây, khi nhiều vấn đề cấp nước, vận hành hồ chứa, chống lũ, chống mặn và bảo vệ môi trường phải điều phối giữa hai địa phương.

Thuận lợi thứ ba là thành phố có nhiều sản phẩm và không gian phát triển có thể kết hợp với nhau: nông nghiệp hữu cơ, dược liệu, sâm Ngọc Linh, kinh tế rừng, du lịch sinh thái miền núi, du lịch di sản, thủy sản, cảng biển và đô thị thông minh.

Thuận lợi thứ tư là tỷ lệ che phủ rừng cao và diện tích rừng lớn tạo điều kiện để Đà Nẵng phát triển kinh tế carbon, du lịch sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và nông nghiệp dưới tán rừng. Đây là một lợi thế rất quan trọng trong xu thế phát triển xanh.

Khó khăn và thách thức chủ yếu

Khó khăn lớn nhất là quản lý một thành phố quá đa dạng về không gian. Đà Nẵng mới vừa có phường đô thị mật độ cao, vừa có xã miền núi biên giới, vừa có vùng ven biển, vừa có đặc khu Hoàng Sa, vừa có di sản, khu công nghiệp, khu kinh tế và vùng nông nghiệp. Mỗi vùng có yêu cầu quản lý rất khác nhau.

Khó khăn thứ hai là rủi ro thiên tai. Vùng miền núi có nguy cơ lũ quét, sạt lở, mất rừng và mất an toàn hồ đập. Vùng đồng bằng và đô thị có nguy cơ ngập lụt. Vùng ven biển có nguy cơ xói lở, bão mạnh, nước biển dâng và ô nhiễm biển. Biến đổi khí hậu sẽ làm các rủi ro này trở nên khó lường hơn.

Khó khăn thứ ba là áp lực môi trường tăng nhanh. Khi đô thị, du lịch, công nghiệp, làng nghề, thủy sản và nông nghiệp cùng phát triển, nếu hạ tầng xử lý nước thải, rác thải và quan trắc môi trường không theo kịp, thành phố sẽ khó giữ được thương hiệu “thành phố môi trường”.

Khó khăn thứ tư là nông nghiệp có nguy cơ bị xem nhẹ trong một đô thị lớn. Nếu chỉ tập trung vào đô thị, du lịch và công nghiệp, thành phố có thể đánh mất các vùng đệm sinh thái, vùng sản xuất an toàn, cảnh quan nông thôn và sinh kế của người dân miền núi – trung du.

Hướng phát triển phù hợp

Theo em, Đà Nẵng mới nên phát triển theo hướng: đô thị sinh thái – nông nghiệp xanh – thủy lợi thông minh – kinh tế biển bền vững – bảo vệ rừng đầu nguồn và lưu vực Vu Gia – Thu Bồn.

Về nông nghiệp, cần ưu tiên nông nghiệp hữu cơ, dược liệu, sâm Ngọc Linh, rau quả an toàn, chăn nuôi sinh học, thủy sản bền vững, sản phẩm OCOP và nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm. Không nên phát triển nông nghiệp bằng mở rộng diện tích hay sản lượng đại trà, mà phải tăng giá trị, chất lượng và tính sinh thái.

Về thủy lợi, cần lấy lưu vực Vu Gia – Thu Bồn làm trục quản lý chính. Thành phố cần bảo vệ rừng đầu nguồn, quản lý an toàn hồ chứa, vận hành liên hồ khoa học, chống lũ hạ du, chống hạn mùa khô, kiểm soát mặn, bảo vệ hành lang sông và duy trì dòng chảy môi trường.

Về môi trường, cần xây dựng hệ thống quản lý đồng bộ cho toàn thành phố mới: phân loại và xử lý rác hiện đại, kiểm soát nước thải đô thị – công nghiệp – làng nghề, bảo vệ biển, phục hồi sông, kiểm soát rác thải nhựa, bảo tồn Cù Lao Chàm, rừng Sơn Trà, rừng đầu nguồn và hệ sinh thái miền núi.

Nhận định tổng quát

Đà Nẵng sau sáp nhập có tiềm năng trở thành một hình mẫu đặc biệt của Việt Nam về đô thị xanh, quản lý lưu vực sông, nông nghiệp sinh thái, du lịch di sản, kinh tế biển và phát triển bền vững. Lợi thế lớn nhất của thành phố là sự kết hợp giữa đô thị hiện đại Đà Nẵng cũ và không gian rừng – sông – nông nghiệp – di sản rộng lớn của Quảng Nam cũ.

Nhưng điểm nghẽn lớn nhất cũng rất rõ: thiên tai phức tạp, áp lực môi trường tăng nhanh, rủi ro mất rừng đầu nguồn, an toàn hồ chứa, chất thải rắn, nước thải và yêu cầu quản trị một không gian rất rộng sau sáp nhập. Nói ngắn gọn, Đà Nẵng mới muốn phát triển bền vững thì phải coi nông nghiệp – thủy lợi – môi trường là một hệ thống thống nhất. Rừng giữ nước cho lưu vực; sông nuôi đồng bằng, đô thị và di sản; biển mở ra không gian phát triển; còn môi trường chính là tài sản lâu dài của thành phố. Với Đà Nẵng mới, phát triển không chỉ là mở rộng đô thị, mà là biết giữ gìn cân bằng giữa núi – sông – biển – di sản – con người.