Đỗ Đức Dũng 16/05/2026
Quảng Trị mới sau sáp nhập: Không gian nông nghiệp – thủy lợi – môi trường từ Trường Sơn ra biển
1. Một tỉnh mới có cấu trúc tự nhiên rất đặc biệt
Từ ngày 01/7/2025, tỉnh Quảng Trị mới được hình thành trên cơ sở sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của tỉnh Quảng Bình cũ và tỉnh Quảng Trị cũ. Theo thông tin công bố về Nghị quyết 202/2025/QH15, sau sắp xếp tỉnh Quảng Trị có diện tích tự nhiên khoảng 12.700 km², dân số 1.870.845 người, giáp tỉnh Hà Tĩnh, thành phố Huế, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Biển Đông. Sau sắp xếp cấp xã, tỉnh có 78 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 69 xã, 8 phường và 1 đặc khu Cồn Cỏ.
Điểm nổi bật của Quảng Trị mới là không gian phát triển kéo dài theo trục Tây – Đông rất rõ: phía tây là dãy Trường Sơn, rừng đầu nguồn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cửa khẩu và hành lang kinh tế Đông – Tây; ở giữa là dải đồng bằng hẹp ven các lưu vực sông; phía đông là dải cát, biển, đảo, cảng biển, du lịch biển và ngư trường. Đây là một tỉnh có đủ các dạng địa hình núi đá vôi – rừng – gò đồi – đồng bằng – cát ven biển – biển đảo, nên nông nghiệp, thủy lợi và môi trường cũng rất đa dạng.
Khác với nhiều tỉnh đồng bằng, Quảng Trị mới không có lợi thế lớn về đồng bằng rộng. Đất sản xuất nông nghiệp bị chia cắt bởi núi, sông ngắn dốc, dải cát ven biển và các vùng địa hình phức tạp. Nhưng bù lại, tỉnh có tài nguyên rừng lớn, hệ thống hang động – karst đặc biệt, bờ biển dài, vùng biển rộng, các cảng biển, cửa khẩu quốc tế, cùng nhiều sản phẩm nông – lâm – thủy sản có bản sắc riêng.
2. Nông nghiệp: không lớn về diện tích đồng bằng, nhưng đa dạng về sản phẩm và vùng sinh thái
Nông nghiệp Quảng Trị mới có thể nhìn theo bốn không gian chính.
Thứ nhất là vùng đồng bằng lúa và màu ven sông. Đây là vùng sản xuất lương thực chủ yếu, phân bố dọc các lưu vực như Gianh, Nhật Lệ, Kiến Giang, Bến Hải, Thạch Hãn, Ô Lâu và các vùng đồng bằng ven biển. Ở Quảng Bình cũ, năm 2024 sản lượng lương thực đạt khoảng 323.004 tấn, trong đó sản lượng lúa đạt khoảng 297.868 tấn. Ở Quảng Trị cũ, năm 2024 sản lượng lương thực có hạt ước đạt 31,13 vạn tấn, trong đó lúa đạt 296.452 tấn. Như vậy, sau sáp nhập, Quảng Trị mới có nền sản xuất lúa tương đối quan trọng đối với an ninh lương thực nội tỉnh, dù không phải là vùng lúa lớn như Đồng bằng sông Cửu Long.
Thứ hai là vùng gò đồi và trung du, nơi phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi, rừng trồng và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Quảng Trị cũ có các sản phẩm đáng chú ý như cao su, hồ tiêu, cà phê, dược liệu, cây ăn quả, lúa hữu cơ và sản phẩm nông nghiệp liên kết chuỗi. Năm 2024, diện tích cây trồng có liên kết tiêu thụ sản phẩm của Quảng Trị cũ đạt hơn 8.100 ha, tập trung vào lúa, cà phê, hồ tiêu, dược liệu và cây ăn quả. Đây là hướng đi phù hợp vì tỉnh không nên chỉ chạy theo sản lượng, mà cần nâng giá trị trên từng đơn vị đất canh tác.
Thứ ba là vùng lâm nghiệp và kinh tế rừng. Đây là lợi thế rất lớn của Quảng Trị mới, nhất là phần Quảng Bình cũ. Quảng Bình cũ có hơn 469.000 ha rừng tự nhiên và 120.000 ha rừng trồng; tỷ lệ che phủ rừng năm 2023 đạt trên 68,7%, thuộc nhóm rất cao của cả nước. Quảng Trị cũ cũng có khoảng 248.189 ha rừng hiện có, tỷ lệ che phủ rừng năm 2024 ước đạt 49,6%, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đạt khoảng 1,164 triệu m³. Sau sáp nhập, rừng trở thành một trong những nền tảng chiến lược của tỉnh mới, không chỉ về lâm sản mà còn về phòng hộ đầu nguồn, đa dạng sinh học, dịch vụ môi trường rừng và tín chỉ carbon.
Thứ tư là vùng biển, ven biển và thủy sản. Quảng Bình cũ có bờ biển dài hơn 116 km, nhiều cửa sông và ngư trường rộng; năm 2024 sản lượng thủy sản ước đạt 99.517 tấn, trong đó khai thác đạt khoảng 86.010 tấn. Quảng Trị cũ năm 2024 có tổng sản lượng thủy sản khoảng 38.043 tấn, nuôi thủy sản công nghệ cao trên 111 ha. Khi cộng hai không gian này lại, Quảng Trị mới có tiềm năng lớn hơn về khai thác biển, nuôi trồng thủy sản, hậu cần nghề cá, chế biến thủy sản, kinh tế đảo Cồn Cỏ và phát triển cảng biển – logistics ven biển.
Như vậy, nông nghiệp Quảng Trị mới không nên được nhìn như một nền nông nghiệp thuần lúa. Đúng hơn, đây là một hệ thống nông – lâm – ngư nghiệp đa vùng, gồm lúa, màu, cao su, hồ tiêu, cà phê, cây ăn quả, dược liệu, chăn nuôi, rừng trồng, gỗ chứng chỉ, thủy sản biển, nuôi trồng thủy sản và kinh tế nông nghiệp gắn với du lịch sinh thái.
3. Thủy lợi và tài nguyên nước: bài toán khó của vùng sông ngắn, dốc và thiên tai cực đoan
Thủy lợi ở Quảng Trị mới rất phức tạp vì tỉnh có nhiều lưu vực sông ngắn, dốc, đổ nhanh từ Trường Sơn ra biển. Mùa mưa, lũ lên nhanh, tiêu thoát khó ở vùng thấp; mùa khô, nhiều nơi thiếu nước, nhất là vùng gò đồi, vùng cát ven biển và vùng cuối kênh. Vì vậy, thủy lợi của tỉnh mới không chỉ là tưới tiêu nông nghiệp, mà là bài toán trữ nước, cấp nước, chống hạn, tiêu úng, cắt lũ, bảo vệ hồ đập, kiểm soát mặn và bảo vệ vùng hạ du.
Ở Quảng Bình cũ, hệ thống thủy lợi có quy mô đáng kể với 153 hồ chứa và 193 đập dâng thủy lợi; trong đó có 38 hồ chứa xung yếu, hư hỏng nghiêm trọng cần nâng cấp, sửa chữa. Các hồ lớn như Rào Đá, Thác Chuối, Vực Tròn, Phú Vinh giữ vai trò quan trọng trong cấp nước, điều tiết lũ và phục vụ sản xuất, dân sinh.
Ở Quảng Trị cũ, trước sáp nhập có 123 hồ chứa thủy lợi và 2 đập dâng thuộc diện quản lý an toàn đập; ngoài ra còn có 481 công trình thủy lợi khác, gồm 221 đập dâng, 243 trạm bơm, 17 cống ngăn mặn và 2.125 km kênh mương. Qua kiểm tra, có 34 công trình đập, hồ chứa được đánh giá có nguy cơ mất an toàn cao và 51 công trình thủy lợi khác hư hỏng, xuống cấp. Đây là số liệu rất đáng chú ý, vì nó cho thấy an toàn hồ đập và duy tu công trình thủy lợi sẽ là nhiệm vụ cấp bách của Quảng Trị mới.
Ngoài các công trình tưới, tỉnh mới còn phải tính đến hệ thống công trình ngăn mặn, giữ ngọt, tiêu úng và bảo vệ vùng ven biển. Ở Quảng Trị cũ, một số công trình như đập ngăn mặn Châu Thị, tràn Nam Thạch Hãn, hồ Trúc Kinh, hồ Ái Tử được nhắc đến như các điểm cần sửa chữa, nâng cấp khẩn cấp. Những công trình này không chỉ phục vụ sản xuất, mà còn liên quan trực tiếp đến an toàn vùng hạ du và khả năng chủ động nước trong mùa hạn.
Với Quảng Trị mới, quản lý nước cần chuyển mạnh từ tư duy “công trình riêng lẻ” sang tư duy quản trị nước theo lưu vực. Các lưu vực Gianh, Nhật Lệ – Kiến Giang, Bến Hải, Thạch Hãn, Ô Lâu và các sông ven biển phải được theo dõi đồng bộ về mưa, lũ, dung tích hồ, mực nước, xâm nhập mặn, hạn hán, nhu cầu tưới, cấp nước sinh hoạt và an toàn hạ du.
4. Môi trường: lợi thế rừng – biển – hang động lớn, nhưng rủi ro thiên tai rất cao
Về môi trường, Quảng Trị mới có một tài sản đặc biệt là Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng. Đây là Di sản thiên nhiên thế giới, có giá trị nổi bật về địa chất – địa mạo, hệ thống hang động karst và đa dạng sinh học. Cùng với Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu – Khe Nước Trong và các vùng rừng đầu nguồn ở phía tây, Quảng Trị mới có hệ sinh thái rừng rất quan trọng đối với cả bảo tồn, du lịch sinh thái, an ninh nguồn nước và giảm nhẹ thiên tai.
Tuy nhiên, chính vì nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, Quảng Trị mới cũng là vùng chịu thiên tai rất khắc nghiệt. Mưa lớn, lũ nhanh, bão mạnh, sạt lở đất, sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển, hạn hán và thiếu nước mùa khô đều có thể xảy ra. Năm 2024, lũ trên sông Nhật Lệ đoạn qua Đồng Hới từng vượt mức lũ lịch sử năm 1983 trong đợt mưa lớn do bão Trà Mi và không khí lạnh. Điều này cho thấy rủi ro lũ ở phần Quảng Bình cũ là rất đáng lưu ý.
Ở phần Quảng Trị cũ, sạt lở bờ sông và bờ biển cũng rất nghiêm trọng. Các vị trí sạt lở bờ sông tập trung ở sông Hiếu, Thạch Hãn, Vĩnh Định, Sê Păng Hiêng, Nhùng; sạt lở bờ biển nghiêm trọng ở khu vực Gio Linh, Vĩnh Linh và một số đoạn ven biển. Giai đoạn 2018–2024, địa phương đã huy động hơn 870 tỷ đồng để xây dựng kè chống sạt lở bờ sông, bờ biển với tổng chiều dài khoảng 66 km, nhưng vẫn cần thêm hơn 1.200 tỷ đồng để xử lý khoảng 62,5 km sạt lở đặc biệt nghiêm trọng.
Ở phần Quảng Bình cũ, xâm thực và sạt lở bờ biển cũng là vấn đề lớn, đặc biệt tại một số đoạn bờ biển như Thanh Trạch, Bố Trạch. Có khu vực được phản ánh sạt lở nghiêm trọng trong nhiều năm gần đây, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của hàng trăm hộ dân.
Như vậy, môi trường Quảng Trị mới có hai mặt rất rõ. Một mặt là tài sản sinh thái quý: rừng tự nhiên, hang động, đa dạng sinh học, biển đảo, cảnh quan ven biển. Mặt khác là rủi ro thiên tai cao: lũ lớn, sạt lở, xói lở, hạn hán, suy giảm rừng, ô nhiễm cục bộ ở đô thị – công nghiệp – nuôi trồng thủy sản và áp lực phát triển hạ tầng ven biển.
5. Những thuận lợi nổi bật của Quảng Trị mới
Thuận lợi đầu tiên là không gian phát triển rất đa dạng. Quảng Trị mới có rừng Trường Sơn, di sản Phong Nha – Kẻ Bàng, vùng gò đồi, đồng bằng ven sông, dải cát ven biển, biển đảo Cồn Cỏ, cảng biển, cửa khẩu và hành lang kinh tế Đông – Tây. Đây là nền tảng để tỉnh phát triển tổng hợp nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, du lịch sinh thái, logistics và kinh tế biển.
Thuận lợi thứ hai là tài nguyên rừng rất lớn. Phần Quảng Bình cũ có tỷ lệ che phủ rừng trên 68,7%, phần Quảng Trị cũ cũng có độ che phủ rừng gần 50%. Nếu quản lý tốt, rừng không chỉ tạo nguồn thu từ gỗ, lâm sản ngoài gỗ và dịch vụ môi trường rừng, mà còn giúp giữ nước, giảm lũ, chống xói mòn, phát triển tín chỉ carbon và bảo vệ đa dạng sinh học.
Thuận lợi thứ ba là nông nghiệp có nhiều sản phẩm đặc trưng. Lúa chất lượng, lúa hữu cơ, hồ tiêu, cà phê, cao su, dược liệu, cây ăn quả, gỗ rừng trồng, thủy sản biển, tôm công nghệ cao, sản phẩm OCOP và sản phẩm du lịch nông nghiệp đều có dư địa phát triển. Đặc biệt, việc Quảng Trị cũ đã có hơn 8.100 ha cây trồng liên kết tiêu thụ sản phẩm cho thấy nền tảng liên kết chuỗi đã hình thành.
Thuận lợi thứ tư là tiềm năng kinh tế biển và thủy sản được mở rộng. Việc hợp nhất hai tỉnh ven biển giúp Quảng Trị mới có không gian biển dài hơn, kết nối các khu vực như Hòn La, Nhật Lệ, Cửa Gianh, Cửa Việt, Cửa Tùng, Mỹ Thủy và đảo Cồn Cỏ. Nếu phát triển đúng hướng, tỉnh có thể hình thành chuỗi kinh tế biển gồm cảng biển, hậu cần nghề cá, nuôi biển, du lịch biển đảo và chế biến thủy sản.
Thuận lợi thứ năm là vị trí kết nối Đông – Tây đặc biệt quan trọng. Quảng Trị mới vừa có bờ biển, vừa có cửa khẩu, vừa kết nối với Lào và các nước trong tiểu vùng Mekong mở rộng. Điều này tạo điều kiện để nông sản, lâm sản, thủy sản và hàng hóa chế biến có thể đi theo cả hướng Bắc – Nam và Đông – Tây.
6. Những khó khăn, thách thức cần nhìn thẳng
Khó khăn đầu tiên là địa hình chia cắt và đồng bằng hẹp. Phần lớn diện tích là đồi núi, rừng, đất dốc, cát ven biển và các lưu vực sông ngắn. Điều này làm cho sản xuất nông nghiệp khó tổ chức trên quy mô lớn, chi phí thủy lợi – giao thông – cơ giới hóa cao hơn, còn rủi ro lũ quét, sạt lở và hạn hán cũng lớn hơn.
Khó khăn thứ hai là thiên tai rất cực đoan. Lũ ở Quảng Bình cũ có thể lên nhanh và rất lớn; vùng Quảng Trị cũ thường xuyên chịu lũ trên các sông Thạch Hãn, Hiếu, Bến Hải, Ô Lâu; vùng ven biển chịu bão, triều cường, xói lở; vùng gò đồi và miền núi chịu hạn hán, thiếu nước và sạt lở đất. Đây là thách thức lớn đối với cả sản xuất nông nghiệp, an toàn dân cư và hạ tầng thủy lợi.
Khó khăn thứ ba là nhiều công trình thủy lợi đã xuống cấp. Cả hai địa phương cũ đều có hồ chứa, đập dâng, kênh mương, trạm bơm đã xây dựng lâu năm. Riêng Quảng Bình cũ có 38 hồ chứa xung yếu cần nâng cấp; Quảng Trị cũ có 34 công trình đập, hồ chứa nguy cơ mất an toàn cao và 51 công trình thủy lợi khác hư hỏng, xuống cấp. Đây là điểm nghẽn rất rõ, đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn và cơ chế ưu tiên an toàn hồ đập.
Khó khăn thứ tư là sạt lở bờ sông, bờ biển ngày càng nghiêm trọng. Sạt lở không chỉ làm mất đất, mất nhà, ảnh hưởng giao thông và sản xuất, mà còn đe dọa các công trình thủy lợi, khu dân cư, di tích và rừng phòng hộ ven biển. Với một tỉnh có nhiều sông ngắn dốc và bờ biển dài, vấn đề này phải được xem là nhiệm vụ thường xuyên, không thể chỉ xử lý theo từng điểm sự cố.
Khó khăn thứ năm là mâu thuẫn giữa phát triển và bảo tồn. Quảng Trị mới cần phát triển đô thị, cảng biển, công nghiệp, du lịch, giao thông, nông nghiệp hàng hóa và kinh tế cửa khẩu. Nhưng tỉnh cũng phải bảo vệ Phong Nha – Kẻ Bàng, rừng đầu nguồn, đa dạng sinh học, nguồn nước, vùng biển ven bờ và sinh kế truyền thống. Nếu phát triển nóng, lợi thế sinh thái có thể bị tổn thương.
Khó khăn thứ sáu là dữ liệu sau sáp nhập cần được chuẩn hóa lại. Nhiều số liệu hiện nay vẫn được công bố theo Quảng Bình cũ hoặc Quảng Trị cũ. Để quản lý hiệu quả, tỉnh mới cần nhanh chóng xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về đất đai, rừng, thủy lợi, cây trồng, vật nuôi, thủy sản, thiên tai, sạt lở, nguồn nước, chất lượng nước và dân cư theo đơn vị hành chính mới.
7. Một số định hướng nên ưu tiên
Trước hết, Quảng Trị mới cần phát triển nông nghiệp theo hướng đa vùng sinh thái. Vùng đồng bằng ven sông ưu tiên lúa chất lượng, lúa hữu cơ, rau màu và chăn nuôi an toàn. Vùng gò đồi phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, dược liệu, chăn nuôi, nông nghiệp công nghệ cao và tưới tiết kiệm. Vùng miền núi phát triển kinh tế rừng, dược liệu dưới tán rừng, sinh kế đồng bào dân tộc thiểu số và du lịch cộng đồng. Vùng ven biển phát triển thủy sản, nuôi biển, hậu cần nghề cá, rừng phòng hộ và du lịch biển.
Thứ hai, thủy lợi cần chuyển sang hướng trữ nước – an toàn hồ đập – quản trị theo lưu vực. Với điều kiện sông ngắn dốc, Quảng Trị mới phải coi hồ chứa, đập dâng, kênh tiêu, công trình ngăn mặn và hệ thống cảnh báo lũ là một mạng lưới thống nhất. Cần ưu tiên sửa chữa hồ đập xung yếu, hiện đại hóa quan trắc mưa – mực nước – dung tích hồ, lập bản đồ ngập lụt hạ du và vận hành theo dự báo.
Thứ ba, cần xem rừng là hạ tầng sinh thái chiến lược. Rừng không chỉ là tài nguyên lâm nghiệp, mà là công trình tự nhiên giữ nước, giảm lũ, chống xói mòn, bảo vệ đa dạng sinh học và tạo sinh kế dài hạn. Quảng Trị mới có điều kiện rất tốt để phát triển quản lý rừng bền vững, chứng chỉ rừng, tín chỉ carbon, dược liệu và du lịch sinh thái.
Thứ tư, cần quản lý sạt lở bờ sông, bờ biển theo hướng phòng ngừa dài hạn. Không chỉ xây kè cứng ở nơi nguy hiểm, mà cần điều tra diễn biến lòng dẫn, quản lý khai thác cát sỏi, phục hồi rừng phòng hộ ven biển, giữ hành lang sông suối, kiểm soát xây dựng sát mép sông và bố trí lại dân cư vùng nguy cơ cao.
Thứ năm, cần xây dựng chuỗi giá trị nông – lâm – thủy sản gắn với chế biến. Những sản phẩm như gỗ rừng trồng, hồ tiêu, cà phê, dược liệu, lúa hữu cơ, thủy sản biển, tôm công nghệ cao, sản phẩm OCOP và nông sản vùng gò đồi cần được gắn với tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu và thị trường ổn định.
8. Kết luận
Quảng Trị mới sau sáp nhập là một tỉnh có cấu trúc tự nhiên rất đặc sắc. Đây không chỉ là sự cộng lại của Quảng Bình cũ và Quảng Trị cũ, mà là một không gian phát triển mới kéo dài từ rừng Trường Sơn, di sản Phong Nha – Kẻ Bàng, vùng gò đồi, đồng bằng hẹp, dải cát ven biển đến biển đảo Cồn Cỏ.
Lợi thế của tỉnh rất lớn: diện tích rộng, tài nguyên rừng phong phú, di sản thiên nhiên tầm quốc tế, bờ biển dài, ngư trường rộng, vị trí kết nối Đông – Tây, nhiều sản phẩm nông – lâm – thủy sản có bản sắc. Nhưng thách thức cũng rất rõ: thiên tai khắc nghiệt, sông ngắn dốc, hạn hán mùa khô, lũ lớn mùa mưa, sạt lở bờ sông – bờ biển, nhiều công trình thủy lợi xuống cấp và nhu cầu chuẩn hóa dữ liệu sau sáp nhập.
Vì vậy, con đường phù hợp nhất với Quảng Trị mới là phát triển theo hướng nông nghiệp sinh thái đa vùng, thủy lợi an toàn và thông minh, kinh tế rừng bền vững, kinh tế biển có kiểm soát và bảo vệ môi trường nghiêm ngặt. Nếu làm tốt, Quảng Trị mới có thể trở thành một mô hình phát triển rất riêng của Bắc Trung Bộ: một tỉnh biết dựa vào rừng, nước, biển, di sản và con người để phát triển bền vững trong điều kiện thiên nhiên nhiều thử thách.

