Skip to content

ĐÔI NÉT VỀ PHÚ THỌ

Đỗ Đức Dũng 16/05/2026

Phú Thọ mới sau sáp nhập: Không gian nông nghiệp – thủy lợi – môi trường từ Đất Tổ đến hồ Hòa Bình

1. Một Phú Thọ mới rộng hơn, đa dạng hơn và phức tạp hơn

Từ ngày 01/7/2025, tỉnh Phú Thọ mới được hình thành trên cơ sở sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của tỉnh Phú Thọ cũ, tỉnh Vĩnh Phúc cũ và tỉnh Hòa Bình cũ. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, tỉnh Phú Thọ mới có diện tích tự nhiên 9.361,38 km², dân số 4.022.638 người; tiếp giáp các tỉnh Lào Cai, Ninh Bình, Sơn La, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Tuyên Quang và thành phố Hà Nội.

Sau sắp xếp cấp xã, tỉnh Phú Thọ có 148 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 133 xã và 15 phường; trong đó có 131 xã, 15 phường hình thành sau sắp xếp và 2 xã không thực hiện sắp xếp là Thu Cúc, Trung Sơn.

Điểm đáng chú ý nhất là Phú Thọ mới không còn là một tỉnh trung du đơn thuần. Tỉnh mới có đủ ba dạng không gian: đồng bằng – trung du – miền núi. Phần Vĩnh Phúc cũ bổ sung vùng đồng bằng, vùng ven đô, vùng công nghiệp, vùng rau màu, chăn nuôi và Tam Đảo. Phần Phú Thọ cũ giữ vai trò vùng Đất Tổ, trung du, chè, bưởi, lúa, sông Lô – sông Thao – sông Đà. Phần Hòa Bình cũ bổ sung vùng miền núi cao, hồ Hòa Bình, sông Đà, thủy sản lòng hồ, rừng phòng hộ và văn hóa Mường.

Vì vậy, khi nhìn về nông nghiệp, thủy lợi và môi trường, Phú Thọ mới cần được xem như một tỉnh liên vùng sinh thái. Đây là không gian chuyển tiếp giữa vùng núi Tây Bắc, trung du Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng và vùng Thủ đô. Lợi thế rất lớn, nhưng quản lý cũng khó hơn nhiều so với trước.

2. Nông nghiệp: từ trung du chè, bưởi đến vùng hồ, vùng núi và nông nghiệp ven đô

Sau hợp nhất, Phú Thọ có quỹ đất nông nghiệp rất lớn. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Phú Thọ, diện tích đất nông nghiệp của tỉnh mới đạt khoảng 770,6 nghìn ha, chiếm gần 82,3% diện tích tự nhiên. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn, kinh tế rừng, chăn nuôi tập trung, thủy sản lòng hồ và du lịch nông nghiệp.

Về trồng trọt, Phú Thọ mới có tổng diện tích cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm khoảng 52,6 nghìn ha. Một số cây trồng nổi bật gồm chè 14,5 nghìn ha, bưởi 11,9 nghìn ha, cam 3,7 nghìn ha. Đây là những sản phẩm có bản sắc rõ ràng, gắn với các vùng nổi tiếng như chè Long Cốc, bưởi Đoan Hùng, cam Cao Phong, bưởi đỏ Tân Lạc, thanh long ruột đỏ, nếp gà gáy, khoai tầng vàng.

Nếu như Phú Thọ cũ mạnh về chè, bưởi, lúa chất lượng và cây ăn quả trung du, thì Hòa Bình cũ bổ sung các sản phẩm miền núi như cam Cao Phong, bưởi đỏ Tân Lạc, mía tím, cá sông Đà, rau bản địa và sản phẩm nông nghiệp gắn với văn hóa Mường. Vĩnh Phúc cũ lại bổ sung vùng ven đô, rau màu, chăn nuôi tập trung, cây ăn quả, thủy sản nước ngọt và nông nghiệp phục vụ thị trường Hà Nội.

Chăn nuôi là một trụ cột rất lớn của tỉnh mới. Sau hợp nhất, tổng đàn vật nuôi của Phú Thọ gần 40 triệu con, trong đó đàn lợn khoảng 1,86 triệu con, đàn gia cầm khoảng 36,88 triệu con; riêng chăn nuôi lợn tập trung chiếm khoảng 44% tổng đàn lợn. Quy mô này tạo lợi thế lớn về sản xuất thịt, trứng, giống vật nuôi và công nghiệp chế biến, nhưng cũng đặt ra áp lực rất lớn về dịch bệnh, chất thải chăn nuôi, an toàn sinh học và kiểm soát môi trường.

Thủy sản là điểm mới rất đáng chú ý của Phú Thọ sau sáp nhập, nhất là nhờ không gian hồ Hòa Bình, sông Đà, sông Lô, sông Thao và các hồ chứa lớn nhỏ. Năm 2025, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh đạt khoảng 19,9 nghìn ha; tổng số lồng nuôi trên sông và hồ chứa đạt 6.372 lồng; sản lượng thủy sản bình quân đạt khoảng 83,9 nghìn tấn/năm. Toàn tỉnh có 68 khu nuôi thủy sản tập trung, diện tích khoảng 4.349 ha, trong đó 24 cơ sở và khu nuôi được chứng nhận VietGAP với diện tích 255,6 ha.

Như vậy, nông nghiệp Phú Thọ mới không còn là nền nông nghiệp đơn tuyến. Nó gồm nhiều lớp: lúa chất lượng, chè, cây ăn quả có múi, chăn nuôi hàng hóa, thủy sản lòng hồ, kinh tế rừng, dược liệu, rau màu ven đô, nông nghiệp bản địa và du lịch nông nghiệp. Đây là lợi thế rất lớn nếu tỉnh tổ chức được các chuỗi giá trị, xây dựng thương hiệu và phát triển chế biến sâu.

3. Thủy lợi và tài nguyên nước: lợi thế lớn nhưng rủi ro cũng lớn

Phú Thọ mới là một tỉnh có mạng lưới sông hồ rất dày đặc. Báo Phú Thọ cho biết tỉnh có 7 con sông lớn chảy qua, cùng gần 5.000 công trình thủy lợi, trong đó có 3.882 hồ, đập. Hệ thống này vừa là lợi thế lớn cho tưới tiêu, cấp nước, thủy sản, thủy điện, giao thông thủy và sinh kế ven sông; vừa là nguồn rủi ro lớn về lũ, sạt lở, an toàn hồ đập và ngập lụt hạ du.

Về mặt không gian, thủy lợi Phú Thọ mới có ba bài toán khác nhau. Vùng đồng bằng và ven đô Vĩnh Phúc cũ cần hệ thống tiêu úng, trạm bơm, cống lấy nước, kênh tưới và kiểm soát ngập do đô thị hóa. Vùng trung du Phú Thọ cũ cần hồ chứa, đập dâng, trạm bơm ven sông, tưới cho lúa, chè, cây ăn quả và vùng nuôi thủy sản. Vùng miền núi Hòa Bình cũ cần quản lý nước hồ Hòa Bình, thủy sản lòng hồ, cấp nước sinh hoạt nông thôn, phòng chống lũ quét, sạt lở đất và bảo vệ rừng đầu nguồn.

Một ví dụ quan trọng là hồ chứa nước Ngòi Giành ở xã Trung Sơn, có dung tích thiết kế gần 37 triệu m³, giúp trữ nước mùa khô và cắt lũ, giảm áp lực cho vùng hạ lưu khi mưa lớn. Đây là loại công trình thể hiện rõ vai trò đa mục tiêu của thủy lợi trong giai đoạn mới: không chỉ tưới, mà còn cấp nước, phòng lũ và bảo vệ dân cư hạ du.

Tuy nhiên, áp lực thủy lợi không nhỏ. Do biến đổi khí hậu, mực nước các sông lớn như sông Lô, sông Chảy có thời điểm xuống thấp; nhiều trạm bơm ven sông bị “treo giỏ”, phải kéo dài ống hút hoặc bổ sung máy bơm dã chiến để phục vụ sản xuất. Đây là dấu hiệu cho thấy thiếu nước mùa khô đã trở thành rủi ro thật sự, nhất là trong bối cảnh nhu cầu nước cho nông nghiệp, công nghiệp, đô thị, thủy sản và sinh hoạt đều tăng.

Ngược lại, mùa mưa lũ lại đặt ra bài toán hoàn toàn khác. Chỉ riêng năm 2025, tỉnh đã triển khai 26 công trình, dự án trọng điểm về phòng chống thiên tai, xây dựng 14,4 km đê kè, bê tông hóa hơn 128 km kênh mương, nâng cấp 17 hồ, đập. Điều đó cho thấy thủy lợi Phú Thọ mới phải được nhìn như hệ thống an ninh nước và an toàn thiên tai, không chỉ là hệ thống phục vụ sản xuất nông nghiệp.

4. Môi trường: rừng, hồ, sông và đa dạng sinh học là tài sản chiến lược

Phú Thọ mới có lợi thế môi trường rất lớn. Sau sáp nhập, tổng diện tích rừng của tỉnh đạt khoảng 405.394 ha, trong đó rừng tự nhiên khoảng 199.874 ha, rừng trồng khoảng 205.520 ha; tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2025 đạt 43,37%. Đây là tỷ lệ cao hơn bình quân chung cả nước, tạo nền tảng quan trọng cho bảo vệ nguồn nước, giảm xói mòn, phòng chống lũ quét, phát triển lâm nghiệp bền vững và kinh tế carbon.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, Phú Thọ mới có khoảng 450 nghìn ha rừng, tỷ lệ che phủ rừng khoảng 43,6%, có 4 vườn quốc gia và 4 khu bảo tồn thiên nhiên; diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt 74,7 nghìn ha, cùng với 26,8 nghìn ha rừng gỗ lớn. Những số liệu này cho thấy tỉnh có dư địa lớn để phát triển kinh tế rừng, dược liệu dưới tán rừng, du lịch sinh thái và tín chỉ carbon.

Về sinh thái, Phú Thọ mới hội tụ nhiều không gian rất giá trị: Vườn quốc gia Xuân Sơn, vùng Tam Đảo, một phần hệ sinh thái Ba Vì – Hòa Bình, hồ Hòa Bình, sông Đà, sông Lô, sông Thao, vùng trung du chè, vùng cây ăn quả và các khu bảo tồn thiên nhiên. Đây không chỉ là tài nguyên môi trường, mà còn là nền tảng để phát triển du lịch xanh, nông nghiệp sinh thái và sinh kế cộng đồng.

Tuy nhiên, môi trường Phú Thọ cũng chịu nhiều sức ép. Chăn nuôi quy mô lớn tạo lượng chất thải rất lớn; theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, ước tính khoảng 25–30% chất thải, nước thải chăn nuôi chưa được xử lý triệt để và còn thải ra môi trường. Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý vì tỉnh mới có tổng đàn vật nuôi rất lớn, nếu không kiểm soát tốt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kênh mương, ao hồ, sông suối và khu dân cư nông thôn.

Bên cạnh đó, Phú Thọ mới còn phải đối mặt với áp lực từ đô thị hóa, công nghiệp, làng nghề, khai thác khoáng sản, chất thải rắn sinh hoạt, nước thải nông thôn và du lịch sinh thái phát triển nhanh. Tỉnh đang định hướng đưa vào vận hành nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt phát điện tại Trạm Thản và xây dựng khu xử lý chất thải rắn tập trung tại Sơn Lôi theo công nghệ đốt phát điện, xử lý nước rỉ rác và khí thải.

Như vậy, môi trường Phú Thọ mới cần được quản lý theo chuỗi liên hoàn: rừng đầu nguồn – hồ chứa – sông suối – trung du – đồng bằng ven sông – khu công nghiệp – đô thị – vùng nông thôn. Nếu rừng suy giảm, hạ du sẽ chịu lũ, bùn cát và thiếu nước. Nếu chăn nuôi và công nghiệp không xử lý tốt chất thải, hệ thống sông hồ sẽ chịu áp lực lâu dài.

5. Những thuận lợi nổi bật của Phú Thọ mới

Thuận lợi đầu tiên là không gian sinh thái rất đa dạng. Tỉnh mới có đồng bằng, trung du, miền núi, rừng, hồ lớn, sông lớn, vùng ven đô và vùng du lịch sinh thái. Sự đa dạng này cho phép phát triển nhiều mô hình nông nghiệp khác nhau: lúa chất lượng ở vùng đồng bằng, chè và cây ăn quả ở trung du, chăn nuôi tập trung ở vùng ven đô và trung du, cá lồng ở hồ Hòa Bình, dược liệu và kinh tế rừng ở miền núi.

Thuận lợi thứ hai là quy mô nông nghiệp lớn hơn nhiều so với từng tỉnh cũ. Với hơn 770 nghìn ha đất nông nghiệp, Phú Thọ mới có đủ dư địa để quy hoạch lại vùng sản xuất, vùng chăn nuôi, vùng thủy sản, vùng rừng gỗ lớn, vùng nông nghiệp hữu cơ và vùng du lịch nông nghiệp.

Thuận lợi thứ ba là sản phẩm nông nghiệp có bản sắc mạnh. Chè Long Cốc, bưởi Đoan Hùng, cam Cao Phong, bưởi đỏ Tân Lạc, cá sông Đà, gà đồi, lúa chất lượng, rau an toàn, dược liệu, sản phẩm OCOP và sản phẩm văn hóa Mường – Đất Tổ đều có khả năng xây dựng thương hiệu. Đây là lợi thế lớn để phát triển nông nghiệp đa giá trị, không chỉ bán nguyên liệu thô.

Thuận lợi thứ tư là tài nguyên nước và thủy sản lòng hồ rất đáng kể. Hồ Hòa Bình, sông Đà, sông Lô, sông Thao và hệ thống hồ chứa tạo điều kiện cho nuôi cá lồng, thủy sản đặc sản, du lịch hồ, cấp nước và điều tiết lũ. Mục tiêu đến năm 2030, tỉnh phấn đấu duy trì khoảng 19.500 ha mặt nước nuôi thủy sản, phát triển 10.000 lồng nuôi, sản lượng thủy sản trên 100.000 tấn.

Thuận lợi thứ năm là tài nguyên rừng lớn và có giá trị sinh thái cao. Với hơn 405 nghìn ha rừng và tỷ lệ che phủ trên 43%, Phú Thọ có nền tảng quan trọng để phát triển lâm nghiệp bền vững, chứng chỉ rừng, rừng gỗ lớn, du lịch sinh thái, dược liệu dưới tán rừng và thị trường carbon.

Thuận lợi thứ sáu là vị trí kết nối rất tốt. Phú Thọ mới nằm giữa Hà Nội, vùng Tây Bắc, trung du Bắc Bộ và đồng bằng sông Hồng. Vĩnh Phúc cũ có lợi thế công nghiệp và giao thông gần Hà Nội; Hòa Bình cũ có lợi thế Tây Bắc, hồ Hòa Bình và du lịch; Phú Thọ cũ có vị thế Đất Tổ, sông ngòi và trung du. Nếu tổ chức tốt, tỉnh có thể trở thành trung tâm kết nối nông nghiệp, du lịch, công nghiệp chế biến và logistics vùng.

6. Những khó khăn, thách thức cần nhìn thẳng

Khó khăn đầu tiên là không gian tỉnh mới quá đa dạng nên quản lý phức tạp. Chính sách phù hợp với vùng đồng bằng Vĩnh Phúc cũ chưa chắc phù hợp với vùng núi Hòa Bình cũ; mô hình trồng chè trung du không thể áp dụng cho vùng cá lồng hồ Hòa Bình; sản xuất ven đô khác hẳn sinh kế vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, nếu quản lý bình quân, đồng loạt, hiệu quả sẽ thấp.

Khó khăn thứ hai là sản xuất nông nghiệp vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ. Sở Nông nghiệp và Môi trường đánh giá sản xuất còn phân tán, liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa chặt chẽ; chế biến sâu còn hạn chế, nhiều sản phẩm vẫn tiêu thụ dưới dạng thô nên giá trị gia tăng chưa cao.

Khó khăn thứ ba là dịch bệnh chăn nuôi và môi trường chăn nuôi rất đáng lo. Tính đến hết tháng 9/2025, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra ở 122 xã, phường, phải tiêu hủy trên 113 nghìn con lợn, tương đương hơn 6.565 tấn. Đây là cảnh báo lớn đối với một tỉnh có đàn lợn gần 1,86 triệu con và chăn nuôi tập trung phát triển nhanh.

Khó khăn thứ tư là nguồn nước biến động mạnh giữa mùa khô và mùa mưa. Mùa khô, mực nước sông, suối, hồ chứa xuống thấp, trạm bơm ven sông có nguy cơ không lấy được nước. Mùa mưa, các vùng núi và ven sông lại đối mặt với lũ, sạt lở, ngập úng và nguy cơ mất an toàn hồ đập. Đây là bài toán điển hình của một tỉnh có địa hình chuyển tiếp mạnh từ núi xuống trung du và đồng bằng.

Khó khăn thứ năm là thiên tai phức tạp hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Phú Thọ mới có vùng núi cao, hồ chứa, sông lớn, vùng ven sông, vùng đô thị và vùng sản xuất nông nghiệp tập trung. Những năm gần đây, tỉnh phải di dời, sắp xếp chỗ ở cho hàng trăm hộ dân khỏi vùng nguy hiểm do sạt lở, lũ quét và các rủi ro thiên tai khác.

Khó khăn thứ sáu là năng lực quản trị cấp xã sau sáp nhập còn áp lực lớn. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, chỉ khoảng 23,06% cán bộ cấp xã có chuyên môn về nông nghiệp, trong khi địa bàn quản lý sau sáp nhập rộng hơn, nhiệm vụ về đất đai, môi trường, thủy lợi, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản lại phức tạp hơn.

Khó khăn thứ bảy là dữ liệu và cơ chế quản lý cần được chuẩn hóa lại. Sau hợp nhất ba tỉnh, Phú Thọ phải đồng bộ hóa hệ thống văn bản, quy hoạch, cơ sở dữ liệu đất đai, thủy lợi, rừng, chăn nuôi, thủy sản, môi trường và thiên tai. Riêng lĩnh vực quản lý nhà nước, tỉnh cần xử lý khoảng 204 văn bản quy phạm pháp luật để thống nhất áp dụng trên toàn tỉnh trước năm 2026.

7. Một số định hướng nên ưu tiên

Trước hết, Phú Thọ mới cần phát triển nông nghiệp theo hướng phân vùng sinh thái rõ ràng. Vùng đồng bằng và ven đô nên ưu tiên rau an toàn, chăn nuôi công nghệ cao, thủy sản nước ngọt, hoa cây cảnh, thực phẩm chất lượng cao và nông nghiệp phục vụ thị trường Hà Nội. Vùng trung du nên tập trung chè, bưởi, cây ăn quả, lúa chất lượng, sản phẩm OCOP và du lịch nông nghiệp. Vùng miền núi và hồ Hòa Bình nên phát triển kinh tế rừng, dược liệu, cá lồng, du lịch cộng đồng, nông nghiệp bản địa và sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc.

Thứ hai, cần chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp đa giá trị. Nông sản Phú Thọ không nên chỉ bán dưới dạng thô. Chè, cam, bưởi, cá hồ, gỗ rừng trồng, dược liệu, sản phẩm chăn nuôi và OCOP cần gắn với chế biến, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử, du lịch trải nghiệm và thương hiệu vùng.

Thứ ba, thủy lợi cần được hiện đại hóa theo hướng quản trị nước thông minh. Tỉnh cần hệ thống quan trắc mưa, mực nước sông, dung tích hồ chứa, độ ẩm đất, hạn hán, ngập úng, sạt lở và chất lượng nước theo thời gian thực. Hệ thống này phải phục vụ trực tiếp cho vận hành hồ đập, trạm bơm, lịch thời vụ, phòng chống thiên tai và cấp nước sinh hoạt.

Thứ tư, cần ưu tiên an toàn hồ đập và phòng chống thiên tai dựa vào cộng đồng. Với gần 5.000 công trình thủy lợi và 3.882 hồ, đập, Phú Thọ phải phân loại rủi ro từng công trình, kiểm định an toàn, lập bản đồ ngập hạ du, củng cố đê kè, nâng cấp trạm bơm và xây dựng lực lượng ứng phó tại chỗ ở cấp xã.

Thứ năm, rừng phải được xem là hạ tầng sinh thái chiến lược. Bảo vệ rừng ở Xuân Sơn, Tam Đảo, Ba Vì, Hòa Bình và các khu bảo tồn không chỉ để giữ cảnh quan, mà còn để giữ nước, giảm lũ, chống xói mòn, bảo vệ đa dạng sinh học, phát triển dược liệu, du lịch sinh thái và kinh tế carbon.

Thứ sáu, cần kiểm soát chặt môi trường chăn nuôi và chất thải nông thôn. Với quy mô đàn vật nuôi lớn, tỉnh cần đẩy mạnh xử lý chất thải bằng biogas, đệm lót sinh học, phân hữu cơ, tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, kiểm soát mùi, nước thải và phát thải khí nhà kính. Đây là điều kiện bắt buộc nếu Phú Thọ muốn phát triển chăn nuôi hàng hóa mà vẫn giữ được môi trường nông thôn.

8. Kết luận

Phú Thọ mới sau sáp nhập là một tỉnh có cấu trúc phát triển rất đặc biệt. Đây không chỉ là sự cộng lại của Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình, mà là một không gian mới kết nối Đất Tổ – trung du – Tam Đảo – hồ Hòa Bình – vùng ven đô Hà Nội – miền núi Tây Bắc.

Lợi thế của tỉnh rất lớn: diện tích rộng, dân số hơn 4 triệu người, đất nông nghiệp nhiều, sản phẩm đặc sản phong phú, chăn nuôi quy mô lớn, thủy sản lòng hồ có tiềm năng, rừng rộng, nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn, vị trí kết nối thuận lợi. Nhưng thách thức cũng rất rõ: địa hình đa dạng, quản lý phức tạp, sản xuất còn manh mún, dịch bệnh chăn nuôi, ô nhiễm chất thải, thiếu nước mùa khô, lũ lụt mùa mưa, an toàn hồ đập và năng lực quản trị cơ sở sau sáp nhập.

Con đường phù hợp nhất với Phú Thọ mới là phát triển theo hướng nông nghiệp sinh thái đa vùng, thủy lợi thông minh, kinh tế rừng bền vững, thủy sản lòng hồ chất lượng cao, chăn nuôi an toàn sinh học, chế biến sâu và bảo vệ môi trường nông thôn. Nếu làm tốt, Phú Thọ có thể trở thành một hình mẫu mới của vùng trung du và miền núi phía Bắc: một tỉnh biết kết hợp giữa cội nguồn văn hóa, tài nguyên nước, rừng, nông nghiệp và công nghiệp hiện đại để phát triển bền vững trong giai đoạn mới.