Skip to content

ĐÔI NÉT VỀ LẠNG SƠN

Đỗ Đức Dũng 16/05/2026

Lạng Sơn trong bối cảnh hành chính mới: Nông nghiệp, thủy lợi và môi trường của vùng núi biên giới Đông Bắc

1. Bối cảnh mới: Lạng Sơn không sáp nhập cấp tỉnh, nhưng thay đổi mạnh ở cấp xã

Theo Nghị quyết 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Lạng Sơn thuộc nhóm 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp cấp tỉnh. Vì vậy, sau đợt sắp xếp năm 2025, Lạng Sơn vẫn giữ địa giới cấp tỉnh, không hợp nhất với địa phương khác. Tuy nhiên, ở cấp cơ sở, tỉnh có thay đổi rất lớn: sau sắp xếp, Lạng Sơn có 65 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 61 xã và 4 phường, giảm mạnh từ 194 đơn vị cấp xã trước đây.

Về không gian tự nhiên, Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Đông Bắc, có diện tích tự nhiên khoảng 8.310 km², có đường biên giới với Quảng Tây, Trung Quốc dài trên 231 km. Đây là cửa ngõ quan trọng kết nối Việt Nam với Trung Quốc và ASEAN qua các hành lang kinh tế, đồng thời là vùng có địa hình đồi núi, thung lũng, núi đá vôi, vùng cao, vùng biên và các dải đất sản xuất phân tán.

Điểm đặc biệt của Lạng Sơn là tỉnh vừa có vai trò kinh tế cửa khẩu, vừa có nền tảng nông – lâm nghiệp miền núi, vừa có hệ sinh thái rừng rất lớn. Vì vậy, nông nghiệp, thủy lợi và môi trường của Lạng Sơn không thể nhìn theo mô hình đồng bằng. Đây là tỉnh cần phát triển theo tư duy nông nghiệp đặc sản – kinh tế rừng – thủy lợi nhỏ phân tán – quản lý thiên tai miền núi – bảo vệ tài nguyên biên giới.

2. Nông nghiệp Lạng Sơn: không lớn về quy mô đồng bằng, nhưng mạnh về sản phẩm đặc sản và kinh tế đồi rừng

Nông nghiệp Lạng Sơn mang đặc trưng của vùng trung du, miền núi Đông Bắc. Đất sản xuất nông nghiệp không tập trung thành những cánh đồng lớn như đồng bằng, mà phân bố xen kẽ trong các thung lũng, sườn đồi, vùng núi đá vôi, vùng rừng sản xuất và các xã biên giới. Chính điều kiện này tạo ra khó khăn về thủy lợi, cơ giới hóa và tổ chức sản xuất lớn, nhưng cũng tạo nên lợi thế rất riêng cho cây đặc sản, cây ăn quả, cây dược liệu, cây lâm nghiệp và sản phẩm bản địa.

Năm 2025, kinh tế Lạng Sơn tăng trưởng khá. GRDP theo giá so sánh ước đạt 27.547 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,06%; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,07%, đóng góp 1,07 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Con số này cho thấy nông nghiệp tuy không phải là khu vực tăng trưởng nhanh nhất, nhưng vẫn là trụ đỡ quan trọng của sinh kế nông thôn, nhất là ở các xã miền núi và biên giới.

Về trồng trọt, Lạng Sơn đã hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa với các cây trồng chủ lực như na Chi Lăng, quýt Bắc Sơn, hồng Bảo Lâm, thạch đen Tràng Định, cùng các cây có giá trị như hồi, quế, mắc mật, cây ăn quả ôn đới, rau màu và dược liệu. Giai đoạn 2020–2025, sản lượng lương thực hằng năm của tỉnh duy trì trên 305 nghìn tấn, bảo đảm an ninh lương thực địa phương; đồng thời hơn 6.700 ha cây trồng đã được chứng nhận VietGAP, GlobalGAP hoặc hữu cơ, tạo nền tảng cho sản xuất an toàn và nâng cao giá trị sản phẩm.

Một sản phẩm rất tiêu biểu là na Lạng Sơn, đặc biệt là na Chi Lăng. Năm 2025, diện tích trồng na toàn tỉnh đạt khoảng 4.596 ha, trong đó diện tích cho thu hoạch khoảng 4.010 ha; giá trị kinh tế vụ na ước đạt trên 1.500 tỷ đồng. Cây na đã trở thành cây sinh kế quan trọng trên vùng núi đá vôi Chi Lăng, Hữu Lũng và một số khu vực lân cận, cho thấy nếu biết khai thác đúng lợi thế địa hình – thổ nhưỡng, nông nghiệp miền núi vẫn có thể tạo ra giá trị rất cao.

Lâm nghiệp là trụ cột lớn của Lạng Sơn. Tỉnh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp rất lớn, với các sản phẩm như gỗ rừng trồng, nhựa thông, hồi, quế, dược liệu dưới tán rừng và các dịch vụ môi trường rừng. Theo công bố hiện trạng rừng năm 2025, tổng diện tích đất có rừng của Lạng Sơn đạt 603.940,37 ha, trong đó rừng tự nhiên 219.148,69 ha, rừng trồng 384.791,68 ha; diện tích đủ tiêu chí tính tỷ lệ che phủ rừng là 534.260,62 ha, đưa tỷ lệ che phủ rừng lên 64,31%. Đây là một trong những tỷ lệ che phủ rừng cao nhất cả nước.

Thủy sản không phải là thế mạnh lớn như các tỉnh đồng bằng hoặc ven biển, nhưng vẫn có vai trò bổ sung sinh kế. Lạng Sơn duy trì khoảng 1.290 ha diện tích nuôi thủy sản, sản lượng khai thác gần 2.000 tấn/năm; một số vùng nuôi cá lồng trên sông Kỳ Cùng, hồ Pá Má, hồ Bản Viền… góp phần đa dạng hóa nguồn thu cho người dân.

Nhìn tổng thể, nông nghiệp Lạng Sơn có ba đặc điểm lớn: tính đặc sản cao, tính phân tán theo địa hình miền núi và sự gắn bó rất chặt với rừng. Vì vậy, hướng đi phù hợp không phải là mở rộng diện tích đại trà, mà là nâng giá trị trên từng vùng sản xuất: sản phẩm đặc sản, tiêu chuẩn chất lượng, mã số vùng trồng, OCOP, chế biến sâu, du lịch nông nghiệp và kinh tế rừng bền vững.

3. Thủy lợi và tài nguyên nước: bài toán của địa hình miền núi, thung lũng hẹp và nguồn nước phân tán

Thủy lợi ở Lạng Sơn có đặc điểm khác nhiều so với các tỉnh đồng bằng. Nguồn nước phân bố theo sông suối nhỏ, hồ chứa vừa và nhỏ, phai, đập dâng, khe suối và các thung lũng sản xuất. Mùa mưa, nước tập trung nhanh, dễ gây lũ quét, ngập cục bộ, sạt lở đất. Mùa khô, nhiều khu vực thiếu nước sản xuất và sinh hoạt, nhất là vùng cao, vùng núi đá vôi và vùng xa công trình thủy lợi.

Toàn tỉnh hiện có 173 hồ chứa1.481 phai, đập tràn. Riêng Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Lạng Sơn đang quản lý 123 hồ chứa185 đập dâng. Trước mùa mưa lũ, tỉnh phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá hiện trạng hồ đập; từ cuối năm 2023 đến đầu năm 2024 đã sửa chữa 15 công trình hồ chứa để bảo đảm an toàn.

Điều này cho thấy thủy lợi Lạng Sơn vừa có nhiệm vụ cấp nước, vừa có nhiệm vụ an toàn hồ đập và phòng chống thiên tai. Các hồ, đập không chỉ phục vụ tưới cho lúa, rau màu, cây ăn quả, mà còn có vai trò điều tiết nước, giảm ngập úng, bảo vệ dân cư và hạ tầng hạ du trong mùa mưa bão. Với địa hình miền núi, nếu hồ đập nhỏ bị hư hỏng hoặc vận hành không an toàn, rủi ro cho vùng hạ lưu có thể rất lớn.

Một công trình đáng chú ý là hồ chứa nước Bản Lải trên sông Kỳ Cùng. Đây là công trình thủy lợi đa mục tiêu lớn của tỉnh, có dung tích khoảng 164,3 triệu m³, được xây dựng để chống lũ tiểu mãn, lũ sớm, giảm lũ chính vụ cho thành phố Lạng Sơn và vùng phụ cận, đồng thời cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất.

Với Lạng Sơn, thủy lợi không nên chỉ hiểu là “dẫn nước tưới ruộng”. Đó là hệ thống an ninh nguồn nước miền núi, bao gồm tích nước mùa mưa, cấp nước mùa khô, bảo vệ hồ đập, hỗ trợ cây ăn quả, cấp nước sinh hoạt nông thôn, phòng chống lũ quét, sạt lở, bảo vệ nguồn nước sông Kỳ Cùng và các sông suối nội tỉnh.

Trong bối cảnh mới sau sắp xếp cấp xã, nhiệm vụ quản lý thủy lợi càng khó hơn. Một xã mới có thể bao gồm nhiều tiểu lưu vực, nhiều hồ nhỏ, nhiều phai đập, nhiều vùng sản xuất phân tán. Do đó, cấp xã mới cần có dữ liệu rõ về công trình thủy lợi, vùng tưới, vùng thiếu nước, điểm nguy cơ sạt lở, điểm ngập lụt và phương án ứng phó thiên tai cụ thể.

4. Môi trường: tài sản lớn nhất là rừng, đa dạng sinh học và cảnh quan núi đá vôi

Lạng Sơn có tỷ lệ che phủ rừng rất cao, đây là tài sản môi trường quan trọng nhất của tỉnh. Rừng giúp giữ nước, bảo vệ đất, giảm xói mòn, hạn chế lũ quét, duy trì đa dạng sinh học, tạo sinh kế lâm nghiệp và hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái. Với tỷ lệ che phủ rừng 64,31% năm 2025, rừng Lạng Sơn không chỉ là tài nguyên kinh tế, mà là “hạ tầng sinh thái” của toàn tỉnh.

Hệ sinh thái Lạng Sơn rất phong phú, gồm rừng tự nhiên, rừng trồng, núi đá vôi, thung lũng, sông suối, hang động, vùng cây ăn quả và các cảnh quan đặc sắc như Mẫu Sơn, Bắc Sơn, Hữu Liên, Đồng Lâm, Chi Lăng. Đây là nền tảng để phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, nông nghiệp trải nghiệm và các sản phẩm gắn với bản sắc Tày, Nùng, Dao, Kinh và các cộng đồng dân tộc khác.

Tuy nhiên, Lạng Sơn cũng chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh nhận định những năm gần đây, tỉnh chịu nhiều tác động của bão lụt, hạn hán; nông nghiệp, an ninh lương thực, tài nguyên nước, đất, đa dạng sinh học và các cộng đồng sống gần sông hồ, miền núi đều dễ bị tổn thương. Chế độ mưa có xu hướng bất thường: nước tập trung vào mùa mưa gây lũ quét, sạt lở đất, trong khi mùa khô nguồn nước sông suối, ao hồ suy giảm, gây hạn hán và nguy cơ ô nhiễm.

Thiên tai là thách thức rất lớn. Năm 2024, Lạng Sơn chịu ảnh hưởng của rét đậm, rét hại, mưa lũ, gây thiệt hại nặng: 5 người chết, 13 người bị thương, 10.340 hộ gia đình bị ảnh hưởng, thiệt hại trên 3.144 ha lúa, hơn 2.323 ha rau màu, 678 ha cây ăn quả, 27.180 ha rừng, tổng thiệt hại ước trên 1.379 tỷ đồng. Đây là con số cho thấy thiên tai ở tỉnh miền núi không chỉ là câu chuyện giao thông hay nhà cửa, mà tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, rừng và sinh kế người dân.

Áp lực môi trường còn đến từ đô thị hóa, khai thác khoáng sản, phát triển hạ tầng cửa khẩu, cụm công nghiệp, chăn nuôi, rác thải nông thôn và du lịch. Năm 2026, Lạng Sơn đã triển khai nhiều giải pháp kiểm soát ô nhiễm, trong đó có tăng cường quan trắc môi trường tự động tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh; kiểm tra hệ thống nước thải, khí thải; đồng thời siết quản lý các khu vực sinh thái, đất ngập nước, du lịch và Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Lạng Sơn.

Do đó, môi trường Lạng Sơn cần được quản lý theo chuỗi liên hoàn: rừng đầu nguồn – sông suối – hồ chứa – thung lũng sản xuất – vùng cửa khẩu – đô thị – khu du lịch – vùng biên giới. Nếu rừng bị suy giảm, hạ du sẽ chịu thiếu nước, lũ quét và bùn cát. Nếu công nghiệp, khoáng sản, chăn nuôi và du lịch không kiểm soát tốt chất thải, môi trường sông suối, cảnh quan và sinh kế nông thôn sẽ bị ảnh hưởng.

5. Những thuận lợi nổi bật của Lạng Sơn

Thuận lợi đầu tiên là vị trí cửa ngõ biên giới rất đặc biệt. Lạng Sơn nằm trên các hành lang kinh tế kết nối Trung Quốc với Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh phía Nam. Điều này tạo lợi thế lớn cho tiêu thụ nông sản, xuất khẩu qua cửa khẩu, phát triển logistics nông sản, thương mại biên giới và các chuỗi giá trị gắn với thị trường Trung Quốc.

Thuận lợi thứ hai là tài nguyên rừng rất lớn. Với hơn 603 nghìn ha đất có rừng và tỷ lệ che phủ rừng 64,31%, Lạng Sơn có nền tảng mạnh để phát triển kinh tế rừng, gỗ rừng trồng, hồi, quế, dược liệu, nhựa thông, du lịch sinh thái, dịch vụ môi trường rừng và tín chỉ carbon. Đây là lợi thế mà không nhiều địa phương có được.

Thuận lợi thứ ba là nông sản đặc sản có bản sắc rõ. Na Chi Lăng, quýt Bắc Sơn, hồng Bảo Lâm, thạch đen Tràng Định, hồi, quế, mắc mật, rau vùng cao, sản phẩm OCOP… đều có câu chuyện địa phương và khả năng xây dựng thương hiệu. Tỉnh đã có 201 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên, 25 chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ, 229 vùng trồng được cấp mã số, trong đó có 178 mã vùng trồng xuất khẩu.

Thuận lợi thứ tư là xu hướng sản xuất an toàn đã hình thành. Hơn 6.700 ha cây trồng đạt VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ hoặc tiêu chuẩn chất lượng khác là nền tảng quan trọng để Lạng Sơn nâng giá trị nông sản, đáp ứng yêu cầu thị trường và giảm rủi ro khi xuất khẩu.

Thuận lợi thứ năm là cảnh quan sinh thái và văn hóa rất giàu tiềm năng. Bắc Sơn, Mẫu Sơn, Đồng Lâm, Hữu Liên, Chi Lăng, sông Kỳ Cùng, hệ thống hang động, núi đá vôi và văn hóa các dân tộc Tày, Nùng, Dao tạo nền tảng tốt cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm bản địa ngay tại điểm đến.

6. Những khó khăn, thách thức cần nhìn thẳng

Khó khăn lớn nhất là địa hình chia cắt, sản xuất phân tán. Nhiều vùng sản xuất nằm trong thung lũng nhỏ, sườn đồi, núi đá vôi hoặc khu vực xa trung tâm. Điều này làm tăng chi phí giao thông, thủy lợi, cơ giới hóa, thu gom nông sản, kiểm soát chất lượng và tổ chức sản xuất quy mô lớn.

Khó khăn thứ hai là nguồn nước không ổn định. Mùa mưa dễ xảy ra lũ quét, ngập cục bộ, sạt lở; mùa khô dễ thiếu nước sinh hoạt và sản xuất. Với cây ăn quả như na, quýt, hồng, thiếu nước vào thời kỳ ra hoa, đậu quả hoặc nuôi quả có thể ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm.

Khó khăn thứ ba là thiên tai ngày càng cực đoan. Lạng Sơn chịu tác động của rét đậm, rét hại, sương muối, mưa đá, dông lốc, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán và bão hoàn lưu. Thiệt hại năm 2024 trên 1.379 tỷ đồng là cảnh báo rõ về tính dễ tổn thương của sản xuất nông nghiệp miền núi.

Khó khăn thứ tư là hệ thống thủy lợi nhỏ, nhiều công trình phân tán, cần duy tu thường xuyên. Toàn tỉnh có nhiều hồ, phai, đập tràn, nhưng phần lớn là công trình vừa và nhỏ, dễ chịu tác động của bồi lắng, hư hỏng sau mưa lũ. Công tác kiểm tra, bảo dưỡng, lập phương án ứng phó thiên tai cho từng công trình phải được thực hiện thường xuyên, nhất là sau khi đơn vị cấp xã mới có địa bàn rộng hơn.

Khó khăn thứ năm là phụ thuộc thị trường đối với một số nông sản chủ lực. Na, thạch đen, quýt, hồi, quế và nhiều sản phẩm đặc sản có giá trị cao nhưng phụ thuộc mạnh vào mùa vụ, thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, cửa khẩu, logistics và khả năng bảo quản – chế biến. Nếu chỉ bán tươi, bán thô, nông dân dễ bị rủi ro khi giá xuống hoặc ách tắc tiêu thụ.

Khó khăn thứ sáu là áp lực bảo vệ rừng và môi trường tăng lên. Khi phát triển công nghiệp, cụm công nghiệp, đô thị cửa khẩu, giao thông, du lịch và khai thác tài nguyên, nguy cơ chuyển mục đích sử dụng đất rừng, ô nhiễm nước, rác thải du lịch và suy giảm cảnh quan sẽ tăng. HĐND tỉnh năm 2026 đã phải xem xét nhiều nghị quyết liên quan đến chuyển mục đích sử dụng rừng và các nội dung nông nghiệp – môi trường, cho thấy yêu cầu cân bằng giữa phát triển và bảo tồn ngày càng rõ.

Khó khăn thứ bảy là năng lực quản trị cấp xã sau sắp xếp cần được nâng lên. Khi 194 xã, phường, thị trấn cũ được sắp xếp còn 65 xã, phường, mỗi đơn vị cơ sở phải quản lý địa bàn rộng hơn, nhiều công trình thủy lợi hơn, nhiều vùng rừng hơn, nhiều thôn bản hơn và nhiều vấn đề môi trường hơn. Đây là thách thức không nhỏ đối với quản lý đất đai, thủy lợi, rừng, thiên tai và sản xuất nông nghiệp.

7. Một số định hướng nên ưu tiên

Trước hết, Lạng Sơn cần phát triển nông nghiệp theo hướng đặc sản hóa và chuẩn hóa chất lượng. Những sản phẩm như na Chi Lăng, quýt Bắc Sơn, hồng Bảo Lâm, thạch đen Tràng Định, hồi, quế, mắc mật, rau vùng cao cần được quản lý bằng mã số vùng trồng, tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ, truy xuất nguồn gốc và liên kết tiêu thụ ổn định.

Thứ hai, cần phát triển kinh tế rừng bền vững. Rừng Lạng Sơn không chỉ để khai thác gỗ, mà còn để giữ nước, chống xói mòn, phát triển hồi, quế, dược liệu, du lịch sinh thái, dịch vụ môi trường rừng và tín chỉ carbon. Phát triển rừng gỗ lớn, rừng có chứng chỉ, cây bản địa và mô hình nông – lâm kết hợp là hướng rất phù hợp.

Thứ ba, thủy lợi cần chuyển sang trữ nước nhỏ phân tán kết hợp công trình lớn đa mục tiêu. Hồ Bản Lải có vai trò lớn ở lưu vực sông Kỳ Cùng, nhưng nhiều vùng sản xuất vẫn cần hồ nhỏ, ao trữ nước, phai dâng, kênh mương kiên cố, tưới tiết kiệm và giải pháp thu gom nước mưa. Với cây ăn quả, tưới tiết kiệm và quản lý ẩm đất sẽ ngày càng quan trọng.

Thứ tư, cần quản lý thiên tai theo hướng dữ liệu hóa từng thôn bản, từng tiểu lưu vực. Bản đồ điểm sạt lở, lũ quét, ngập lụt, hồ đập xung yếu, vùng thiếu nước mùa khô và tuyến giao thông dễ chia cắt cần được cập nhật thường xuyên, phục vụ trực tiếp cho cấp xã mới.

Thứ năm, cần phát triển chế biến nông sản và logistics cửa khẩu. Với vị trí cửa ngõ biên giới, Lạng Sơn có lợi thế lớn nếu phát triển kho lạnh, sơ chế, đóng gói, kiểm nghiệm chất lượng, thương mại điện tử, chợ đầu mối và logistics nông sản. Điều này giúp giảm phụ thuộc vào bán tươi, bán mùa vụ.

Thứ sáu, cần gắn nông nghiệp với du lịch sinh thái và văn hóa bản địa. Bắc Sơn, Mẫu Sơn, Hữu Liên, Đồng Lâm, Chi Lăng và các vùng cây ăn quả có thể trở thành không gian du lịch nông nghiệp, giúp người dân tăng thu nhập từ dịch vụ, trải nghiệm, ẩm thực và bán sản phẩm tại chỗ.

Thứ bảy, kiểm soát môi trường phải đi trước một bước. Các khu, cụm công nghiệp, mỏ vật liệu, khu du lịch, cơ sở chăn nuôi, cơ sở chế biến và khu dân cư nông thôn cần được kiểm soát nước thải, khí thải, rác thải và tác động đến rừng, sông suối. Phát triển xanh ở Lạng Sơn không thể tách khỏi bảo vệ rừng và nguồn nước.

8. Kết luận

Lạng Sơn trong bối cảnh hành chính mới là một tỉnh không sáp nhập cấp tỉnh, nhưng thay đổi mạnh ở cấp xã và bước vào giai đoạn quản trị mới. Đây là tỉnh miền núi biên giới có vị trí rất đặc biệt: vừa là cửa ngõ giao thương quốc tế, vừa là vùng rừng lớn, vừa là vùng nông nghiệp đặc sản, vừa là không gian sinh thái – văn hóa giàu bản sắc của Đông Bắc.

Lợi thế của Lạng Sơn rất rõ: vị trí biên giới, rừng nhiều, tỷ lệ che phủ rừng cao, nông sản đặc sản có thương hiệu, nhiều mã số vùng trồng, nhiều sản phẩm OCOP, cảnh quan đẹp và văn hóa bản địa phong phú. Nhưng khó khăn cũng rất lớn: địa hình chia cắt, nguồn nước phân tán, thiên tai cực đoan, công trình thủy lợi nhỏ và dễ hư hỏng, sản xuất còn phân tán, thị trường nông sản biến động và áp lực bảo vệ rừng – môi trường ngày càng cao.

Con đường phù hợp nhất với Lạng Sơn là phát triển theo hướng nông nghiệp đặc sản, kinh tế rừng bền vững, thủy lợi miền núi an toàn, quản trị thiên tai thông minh, logistics nông sản cửa khẩu và bảo vệ môi trường sinh thái biên giới. Nếu làm tốt, Lạng Sơn có thể trở thành một hình mẫu của vùng Đông Bắc: một tỉnh biết dựa vào rừng, nước, nông sản bản địa, văn hóa và vị trí cửa khẩu để phát triển bền vững trong giai đoạn mới.