Đỗ Đức Dũng 16/6/2026
Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, Gia Lai là một trong những địa phương có thay đổi rất lớn về không gian phát triển. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Bình Định và tỉnh Gia Lai cũ được sắp xếp thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Gia Lai. Sau sắp xếp, tỉnh Gia Lai có diện tích tự nhiên 21.576,53 km², dân số 3.583.693 người, giáp tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Quảng Ngãi, Vương quốc Campuchia và Biển Đông. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để xác định đúng không gian Gia Lai mới sau sáp nhập.
Sau sắp xếp cấp xã, Gia Lai có 135 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 110 xã và 25 phường. Trong đó có 101 xã, 25 phường hình thành sau sắp xếp và 9 xã không thực hiện sắp xếp. Quy mô này cho thấy Gia Lai mới không còn là một tỉnh cao nguyên thuần túy, mà đã trở thành một địa phương có không gian quản trị rất rộng, bao gồm cao nguyên, rừng, vùng biên giới, đồng bằng ven biển, cảng biển, đô thị, nông nghiệp hàng hóa và kinh tế biển.
Điểm đặc biệt nhất của Gia Lai mới là sự kết hợp giữa hai vùng sinh thái có tính bổ sung rất mạnh. Gia Lai cũ là vùng cao nguyên, đất bazan, rừng, cây công nghiệp, cà phê, hồ tiêu, cao su, cây ăn quả, chăn nuôi và biên giới Campuchia. Bình Định cũ là vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có đồng bằng ven biển, thủy sản, cảng Quy Nhơn, khu kinh tế Nhơn Hội, du lịch biển, công nghiệp chế biến và hành lang ra biển của Tây Nguyên. Sau sáp nhập, Gia Lai mới trở thành một tỉnh nối liền cao nguyên – rừng – biên giới – đồng bằng – biển.
Một không gian phát triển mới: từ cao nguyên đến biển
Trước đây, khi nhắc đến Gia Lai, nhiều người thường nghĩ đến Pleiku, Biển Hồ, cà phê, hồ tiêu, rừng, cao nguyên bazan và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Khi nhắc đến Bình Định, người ta nghĩ đến Quy Nhơn, cảng biển, thủy sản, võ cổ truyền, đồng bằng ven biển, đầm Thị Nại và kinh tế biển. Sau sáp nhập, hai không gian này không còn phát triển riêng rẽ mà được đặt trong một cấu trúc mới: phía Tây là cao nguyên và vùng nguyên liệu; phía Đông là biển, cảng, logistics và đô thị ven biển.
Đây là thay đổi rất có ý nghĩa. Gia Lai mới có 134 km bờ biển, vùng lãnh hải rộng khoảng 36.000 km² và cảng biển quốc tế Quy Nhơn có thể tiếp nhận tàu hàng đến 70.000 tấn. Điều này mở ra cơ hội lớn để Gia Lai trở thành cửa ngõ ra biển gần nhất cho Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và một phần Thái Lan.
Nói cách khác, Gia Lai mới có thể hình thành một chuỗi phát triển hoàn chỉnh: vùng nguyên liệu nông – lâm sản ở phía Tây, công nghiệp chế biến ở vùng trung tâm và phía Đông, logistics – cảng biển – xuất khẩu ở Quy Nhơn và các khu kinh tế ven biển. Đây là lợi thế mà Gia Lai cũ chưa có đầy đủ, và cũng là cơ hội để Bình Định cũ gắn chặt hơn với không gian sản xuất lớn của Tây Nguyên.
Tuy nhiên, sự mở rộng này cũng làm bài toán phát triển phức tạp hơn. Một tỉnh vừa có hạn mùa khô Tây Nguyên, vừa có bão lũ duyên hải miền Trung; vừa có rừng đầu nguồn, vừa có vùng biển; vừa có cây công nghiệp lâu năm, vừa có thủy sản; vừa có đô thị cảng biển, vừa có vùng biên giới. Vì vậy, Gia Lai mới không thể phát triển theo một công thức chung, mà phải tổ chức theo vùng sinh thái, lưu vực nước và chuỗi giá trị.
Nông nghiệp Gia Lai: trụ cột lớn, đa dạng hơn sau sáp nhập
Nông nghiệp tiếp tục là một trụ cột quan trọng của Gia Lai mới. Theo báo cáo kinh tế – xã hội năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh tăng 3,35%, trong khi công nghiệp – xây dựng tăng 11,12% và dịch vụ tăng 7,38%. Điều này cho thấy dù Gia Lai mới có thêm động lực công nghiệp, cảng biển và dịch vụ, nông nghiệp vẫn giữ vai trò nền tảng trong sinh kế, không gian lãnh thổ và ổn định xã hội.
Ở vùng cao nguyên phía Tây, nông nghiệp Gia Lai có thế mạnh rất rõ về cây công nghiệp và cây ăn quả. Năm 2025, diện tích cà phê đạt khoảng 108.987 ha, sản lượng 341.022 tấn; hồ tiêu đạt 8.425 ha, sản lượng 26.632 tấn; điều đạt khoảng 40.226 ha. Đây là những ngành hàng có vai trò lớn trong xuất khẩu, chế biến và tạo sinh kế cho nông dân vùng cao nguyên.
Bên cạnh cây công nghiệp, cây ăn quả đang trở thành hướng chuyển đổi quan trọng. Năm 2025, diện tích cây ăn quả của Gia Lai ước đạt 39.248,8 ha, tăng 9,4% so với cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt khoảng 456 nghìn tấn. Các cây như sầu riêng, chanh dây, chuối, xoài, bơ, nhãn, vải đang hình thành những vùng sản xuất tập trung, gắn với mã số vùng trồng và xuất khẩu.
Một điểm đáng chú ý là Gia Lai đang đẩy mạnh tái cơ cấu trồng trọt theo hướng nâng cao giá trị. Từ đầu năm 2026, tỉnh đã chuyển đổi hơn 5.000 ha sang cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn; diện tích cây công nghiệp dài ngày duy trì trên 253.000 ha, cây ăn quả đạt hơn 31.500 ha ở khu vực thống kê nêu trong báo cáo chuyên ngành; toàn tỉnh có 348 mã số vùng trồng với diện tích hơn 11.100 ha và 40 cơ sở đóng gói nông sản xuất khẩu được cấp mã số. Đây là nền tảng quan trọng để nông nghiệp Gia Lai chuyển từ sản xuất thô sang sản xuất có tiêu chuẩn, có truy xuất nguồn gốc và có thị trường ổn định hơn.
Sau sáp nhập với Bình Định, Gia Lai có thêm một trụ cột lớn là thủy sản và kinh tế biển. Vùng biển phía Đông có nghề cá truyền thống mạnh, với hơn 5.800 tàu cá, trong đó có hơn 3.000 tàu dài từ 15 m trở lên; lực lượng lao động nghề cá hơn 39.000 người. Đây là nguồn lực rất lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải quản lý khai thác bền vững, giảm khai thác ven bờ, chống khai thác bất hợp pháp và tăng giá trị chế biến.
Như vậy, nông nghiệp Gia Lai mới không còn chỉ là nông nghiệp cao nguyên. Đó là một nền nông nghiệp đa tầng: cà phê – hồ tiêu – cây ăn quả – chăn nuôi – rừng – thủy sản – nuôi biển – chế biến – logistics. Vấn đề quan trọng không phải là mở rộng diện tích bằng mọi giá, mà là nâng giá trị, tiết kiệm nước, bảo vệ đất, tổ chức vùng nguyên liệu và gắn với công nghiệp chế biến sâu.
Thủy lợi và tài nguyên nước: bài toán của cả cao nguyên và duyên hải
Gia Lai mới có bài toán nước rất đặc biệt. Vùng phía Tây là cao nguyên, mùa khô kéo dài, cây công nghiệp cần nước ổn định. Vùng phía Đông là duyên hải Nam Trung Bộ, sông suối ngắn và dốc, mùa mưa có thể lũ nhanh, mùa khô lại thiếu nước cục bộ. Vì vậy, thủy lợi Gia Lai mới phải xử lý đồng thời hai vấn đề: giữ nước cho cao nguyên và điều tiết nước cho đồng bằng ven biển.
Ở khu vực phía Đông, hệ thống hồ chứa có vai trò rất lớn trong cấp nước, chống hạn, cắt lũ và bảo đảm an toàn dân cư hạ du. Theo thông tin của tỉnh, khu vực phía Đông hiện có 164 hồ chứa, gồm 62 hồ lớn, 37 hồ vừa và 65 hồ nhỏ; trong đó có 36 hồ được lắp đặt cửa van điều tiết. Đây là mạng lưới công trình rất quan trọng, nhưng cũng đòi hỏi công tác quản lý an toàn hồ đập phải được đặt lên hàng đầu, nhất là trước mùa mưa bão.
Ở khu vực phía Tây, Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai đã điều tiết nguồn nước để tưới hơn 20.257 ha trong vụ Đông Xuân 2025–2026 và dự kiến phục vụ hơn 12.848 ha cây trồng trong vụ Mùa 2026 tại các khu vực có công trình thủy lợi. Những con số này cho thấy hệ thống thủy lợi hiện hữu có vai trò quan trọng, nhưng quy mô tưới vẫn còn hạn chế so với nhu cầu nước rất lớn của cây công nghiệp, cây ăn quả và sinh hoạt nông thôn.
Một thách thức lớn của Gia Lai là phân bố nước không đều theo không gian và thời gian. Mùa mưa nước nhiều, thậm chí gây lũ, sạt lở và nguy cơ mất an toàn công trình. Mùa khô nước thiếu, đặc biệt ở các vùng trồng cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả và vùng duyên hải có sản xuất nông nghiệp phụ thuộc hồ chứa. Điều này đòi hỏi tỉnh phải chuyển từ tư duy “xây công trình thủy lợi” sang tư duy quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực.
Trong tương lai, thủy lợi Gia Lai cần tập trung vào bốn nhóm nhiệm vụ. Thứ nhất là bảo vệ rừng đầu nguồn để giữ nước. Thứ hai là nâng cấp, sửa chữa và vận hành an toàn hồ chứa. Thứ ba là mở rộng tưới tiết kiệm cho cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả và rau màu. Thứ tư là xây dựng hệ thống quan trắc hạn, mưa, lũ, mực nước hồ và chất lượng nước để điều hành theo thời gian thực.
Môi trường: rừng phía Tây, biển phía Đông và áp lực phát triển mới
Môi trường Gia Lai mới có thể nhìn qua ba lớp lớn: rừng và đất bazan phía Tây; hệ thống hồ chứa, sông suối và vùng nông nghiệp; vùng biển, đầm, vịnh và đô thị cảng phía Đông.
Rừng là tài sản sinh thái rất lớn của tỉnh. Năm 2025, tổng diện tích rừng và diện tích đã trồng cây rừng của Gia Lai đạt hơn 1.032.516 ha; trong đó diện tích đất có rừng hơn 986.613 ha, gồm hơn 692.091 ha rừng tự nhiên và hơn 294.522 ha rừng trồng. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 45,72%. Đây là nền tảng quan trọng cho an ninh nước, bảo vệ đất, giảm lũ, chống xói mòn và duy trì đa dạng sinh học.
Tuy nhiên, rừng cũng là khu vực chịu nhiều áp lực. Phát triển nông nghiệp, cây công nghiệp, hạ tầng, khai thác tài nguyên, du lịch và sinh kế dân cư đều có thể làm suy giảm chất lượng rừng nếu không được quản lý tốt. Với Gia Lai, mất rừng không chỉ là mất tài nguyên lâm nghiệp, mà còn là mất khả năng giữ nước cho cao nguyên, làm tăng nguy cơ hạn mùa khô và lũ nhanh mùa mưa.
Ở vùng sản xuất nông nghiệp, áp lực môi trường đến từ canh tác thâm canh, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chất thải chăn nuôi, bao bì nông dược, nước thải sơ chế và chế biến nông sản. Khi tỉnh phát triển mạnh cà phê, hồ tiêu, sầu riêng, chanh dây, chuối và các vùng nguyên liệu lớn, yêu cầu về nông nghiệp xanh, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc và quản lý chất lượng đất – nước sẽ ngày càng cao.
Ở phía Đông, Gia Lai mới có thêm trách nhiệm rất lớn về môi trường biển. Vùng biển Quy Nhơn – Nhơn Hội – đầm Thị Nại – ven bờ Bình Định cũ có giá trị lớn về du lịch, thủy sản, cảng biển và sinh thái. Nhưng đây cũng là vùng chịu áp lực từ đô thị hóa ven biển, cảng biển, khu kinh tế, du lịch, nuôi trồng thủy sản, rác thải nhựa và biến đổi khí hậu. Nếu môi trường biển suy giảm, tỉnh sẽ mất đi một trong những lợi thế quan trọng nhất sau sáp nhập.
Thuận lợi lớn của Gia Lai mới
Thuận lợi lớn nhất của Gia Lai mới là sự bổ sung rất rõ giữa hai vùng. Gia Lai cũ có cao nguyên, đất bazan, rừng, cây công nghiệp, vùng nguyên liệu và biên giới. Bình Định cũ có biển, cảng Quy Nhơn, thủy sản, đô thị ven biển, công nghiệp chế biến và logistics. Sự kết hợp này tạo ra một chuỗi phát triển mới: nguyên liệu từ cao nguyên – chế biến – logistics – cảng biển – xuất khẩu.
Thuận lợi thứ hai là tỉnh có nhiều sản phẩm nông nghiệp chủ lực có khả năng hình thành thương hiệu và chuỗi giá trị. Cà phê, hồ tiêu, chanh dây, sầu riêng, chuối, điều, cao su, gỗ rừng trồng, thủy sản biển và sản phẩm OCOP đều có dư địa phát triển nếu được tổ chức bài bản theo tiêu chuẩn chất lượng, mã số vùng trồng, chế biến sâu và liên kết doanh nghiệp – hợp tác xã – nông dân.
Thuận lợi thứ ba là Gia Lai có cả rừng và biển. Đây là lợi thế rất hiếm. Rừng giúp giữ nước, bảo vệ đất và tạo nền sinh thái phía Tây. Biển mở ra không gian phát triển kinh tế biển, du lịch, logistics và thủy sản phía Đông. Nếu quản lý tốt, Gia Lai có thể phát triển theo mô hình “rừng vàng – biển bạc” nhưng theo tinh thần hiện đại hơn: rừng là hạ tầng sinh thái, biển là không gian kinh tế xanh.
Thuận lợi thứ tư là hạ tầng liên kết đang mở ra cơ hội mới. Cảng Quy Nhơn, sân bay Phù Cát, sân bay Pleiku, quốc lộ 19, các tuyến kết nối Đông – Tây và định hướng cao tốc Quy Nhơn – Pleiku tạo điều kiện để nông sản Tây Nguyên ra biển nhanh hơn, đồng thời đưa công nghiệp, logistics và dịch vụ từ ven biển lan tỏa vào cao nguyên.
Khó khăn và thách thức chủ yếu
Khó khăn lớn nhất là quản trị một không gian quá đa dạng. Vùng cao nguyên cần bảo vệ rừng, nước và đất bazan. Vùng trung du cần phát triển nông nghiệp hàng hóa và chế biến. Vùng duyên hải cần quản lý cảng biển, thủy sản, du lịch, đô thị và môi trường biển. Nếu áp dụng một chính sách chung cho toàn tỉnh, hiệu quả sẽ không cao.
Khó khăn thứ hai là áp lực nước. Cây công nghiệp và cây ăn quả ở phía Tây cần nước ổn định trong mùa khô. Vùng ven biển phía Đông lại chịu rủi ro lũ nhanh, hạn cục bộ và xâm nhập mặn ở một số khu vực. Biến đổi khí hậu có thể làm cả hai cực đoan này nghiêm trọng hơn: mùa mưa lũ bất thường hơn, mùa khô thiếu nước hơn.
Khó khăn thứ ba là nguy cơ phát triển nóng. Khi sầu riêng, chanh dây, chuối, nuôi biển, du lịch biển và logistics tăng nhanh, nếu thiếu quy hoạch tốt sẽ dễ dẫn tới phá vỡ cân bằng đất – nước – môi trường. Một cây trồng có giá cao không đồng nghĩa với việc phù hợp ở mọi nơi; một khu du lịch đẹp không đồng nghĩa với việc có thể phát triển dày đặc ven biển.
Khó khăn thứ tư là áp lực môi trường từ công nghiệp, đô thị và cảng biển. Khu kinh tế Nhơn Hội, cảng Quy Nhơn, các khu công nghiệp, đô thị ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp tập trung đều cần kiểm soát nghiêm nước thải, chất thải rắn, khí thải, rác thải nhựa và tác động lên hệ sinh thái biển.
Khó khăn thứ năm là yêu cầu dữ liệu và điều hành sau sáp nhập. Với 135 đơn vị hành chính cấp xã, Gia Lai cần nhanh chóng xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về đất, nước, rừng, hồ chứa, vùng sản xuất, vùng nuôi trồng thủy sản, tàu cá, điểm xả thải, rủi ro thiên tai và hạ tầng thủy lợi. Không có dữ liệu tốt, quản lý một tỉnh rộng như Gia Lai mới sẽ rất dễ bị động.
Hướng phát triển phù hợp
Theo em, Gia Lai mới nên phát triển theo hướng: nông nghiệp xanh – thủy lợi thông minh – kinh tế rừng – kinh tế biển – chế biến sâu – logistics Đông Tây.
Về nông nghiệp, cần ưu tiên cà phê chất lượng cao, hồ tiêu bền vững, cây ăn quả có kiểm soát vùng trồng, chăn nuôi an toàn sinh học, gỗ rừng trồng, thủy sản khai thác và nuôi biển theo hướng bền vững. Trọng tâm không phải là tăng diện tích bằng mọi giá, mà là tăng giá trị, giảm rủi ro môi trường và ổn định thị trường.
Về thủy lợi, cần quản lý nước theo lưu vực. Vùng cao nguyên ưu tiên giữ nước, bảo vệ rừng, tưới tiết kiệm và kiểm soát nước ngầm. Vùng ven biển ưu tiên an toàn hồ chứa, chống lũ, tiêu úng, kiểm soát mặn và cấp nước cho sản xuất – dân sinh. Hệ thống hồ chứa cần được theo dõi bằng dữ liệu số, cảnh báo sớm và quy trình vận hành phù hợp với biến đổi khí hậu.
Về môi trường, cần coi rừng, đất bazan, hồ chứa, sông suối và biển là những tài sản chiến lược. Bảo vệ rừng là bảo vệ nước; bảo vệ nước là bảo vệ nông nghiệp; bảo vệ biển là bảo vệ du lịch, thủy sản và cảng biển. Phát triển xanh không nên là khẩu hiệu, mà phải đi vào quy hoạch, đầu tư, kiểm soát nguồn thải và tổ chức sản xuất.
Nhận định tổng quát
Gia Lai mới có tiềm năng trở thành một trong những tỉnh đặc biệt nhất cả nước về nông nghiệp hàng hóa, kinh tế rừng, kinh tế biển, logistics, công nghiệp chế biến và phát triển xanh. Lợi thế lớn nhất là sự kết hợp giữa cao nguyên bazan và biển Đông, giữa Pleiku và Quy Nhơn, giữa rừng đầu nguồn và cảng biển quốc tế.
Nhưng điểm nghẽn lớn nhất cũng rất rõ: thiếu nước mùa khô ở cao nguyên, lũ nhanh và thiên tai ở duyên hải, áp lực môi trường từ nông nghiệp thâm canh – công nghiệp – đô thị – cảng biển, nguy cơ phát triển nóng cây trồng giá trị cao và yêu cầu quản trị một tỉnh rất rộng sau sáp nhập. Nói ngắn gọn, Gia Lai mới muốn phát triển bền vững thì phải coi nông nghiệp – thủy lợi – môi trường là một hệ thống thống nhất. Rừng giữ nước cho cao nguyên; nước nuôi cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả và đồng bằng ven biển; biển mở ra không gian phát triển mới; còn môi trường là điều kiện để tỉnh phát triển lâu dài, ổn định và đáng sống.

