Từ cuộc trở về của 731 liệt sĩ, nghĩ về một đạo lý của người Việt
Đỗ Đức Dũng-15/10/2026
Ngày 14 tháng 10 năm 2026, Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lễ truy điệu và an táng 731 liệt sĩ được tìm thấy, quy tập tại khu vực Công viên Lê Thị Riêng – nơi trước đây là Nghĩa trang Đô Thành. Các anh là những cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968. Gần sáu mươi năm đã trôi qua.

Gần sáu mươi năm là một đời người. Có người mẹ đã không còn để đón con. Có người vợ năm ấy còn trẻ, giờ có lẽ đã tóc bạc, hoặc cũng đã đi xa. Có những người con chưa từng biết mặt cha. Và cũng có những gia đình qua nhiều thế hệ vẫn giữ một niềm mong mỏi rất giản dị: biết người thân mình đang nằm ở đâu.
Bởi vậy, tôi nghĩ cuộc trở về hôm qua không chỉ là một lễ an táng. Đó là một cuộc trở về rất muộn. Nhưng dù muộn đến đâu, đất nước vẫn đi tìm các anh.
Trong 731 hài cốt được quy tập, 698 hài cốt được tìm thấy riêng lẻ. Còn 33 liệt sĩ thuộc những vị trí mộ tập thể và khi an táng được đặt chung trong một bộ hài cốt tập thể.
Tôi cứ nghĩ mãi về con số 33 ấy. Ngày ra trận, các anh chắc cũng từng người một, mỗi người một cái tên, một quê hương, một gia đình, một khuôn mặt. Có người thích một bài hát nào đó. Có người trước ngày nhập ngũ còn là một chàng trai chưa từng đi xa khỏi làng. Có người chắc cũng có một cô gái để thương, một người mẹ để nhớ, một lời hẹn chưa kịp thực hiện.
Vậy mà sau gần sáu mươi năm nằm sâu dưới lòng đất, những gì còn lại của 33 con người ấy đã cùng nằm trong một phần mộ tập thể.
Có lẽ hiếm có hình ảnh nào khiến người ta hiểu cái giá của chiến tranh một cách lặng lẽ mà đau đến thế.
Câu chuyện ấy làm tôi nhớ lại những năm đầu bước chân vào Đại học Thủy lợi. Khi ấy tôi còn trẻ. Tôi chưa hiểu nhiều về chiến tranh. Với thế hệ chúng tôi, chiến tranh đã bắt đầu lùi về phía sau. Nhưng trong những câu chuyện của các thầy, các anh đi trước, tôi thường nghe với niềm tự hào về những thế hệ sinh viên Thủy lợi đã từng xếp bút nghiên, rời giảng đường để lên đường chiến đấu.

Đó không chỉ là câu chuyện truyền lại. Nhà trường đến hôm nay vẫn còn lưu giữ ký ức về những sinh viên – chiến sĩ ấy. Có những sinh viên Thủy lợi đã chiến đấu ở Quảng Trị, ở chiến trường phía Nam; có người trở về, có người mãi mãi nằm lại.
Ngày ấy, vì tò mò, tôi từng hỏi một bác đã trực tiếp tham gia chiến tranh: Thực sự lúc chiến đấu, các bác có sợ không? Câu trả lời tôi nhận được khác khá xa những điều một chàng sinh viên trẻ tuổi thường hình dung. Có chứ.
Sợ bom đạn. Sợ cái chết. Sợ nhìn thấy đồng đội vừa nói cười với mình hôm trước, hôm sau đã không còn. Có những lúc đói. Có những lúc kiệt sức. Có những thời khắc tưởng như không thể vượt qua.
Sau này, càng đọc, càng nghe những người trực tiếp tham gia chiến tranh kể lại, rồi xem những thước phim về Thành cổ Quảng Trị, trong đó có Mưa đỏ, tôi càng hiểu thêm một điều: Anh hùng không phải là những con người không biết sợ.
Họ cũng là những con người bằng xương bằng thịt. Họ cũng yêu cuộc sống. Cũng nhớ cha mẹ. Cũng nhớ người yêu. Cũng có những ước mơ rất bình thường về một ngày hòa bình để trở về nhà.
Nhưng điều đáng kính phục là, trong những thời khắc quyết định, họ đã vượt lên nỗi sợ của chính mình để làm một việc lớn hơn cho đất nước.
Đó mới thực sự là sự hy sinh.
Có một câu nói của những người lính già mà tôi từng nghe trên những đoạn phim tư liệu, nghe rất bình thường nhưng càng nghĩ càng thấy nghẹn: “Có được hòa bình hôm nay gian nan lắm. Cố mà giữ.”
Chỉ mấy chữ thôi.
Nhưng có lẽ phải đi qua chiến tranh, phải chứng kiến đồng đội ngã xuống, phải sống sót trở về sau những trận bom, người ta mới nói được một câu giản dị như thế. Cố mà giữ. Giữ hòa bình. Giữ đất nước. Giữ tình nghĩa. Giữ cái phần tốt đẹp trong mỗi con người.
Ngày hôm qua, khi nhìn dòng người đứng hai bên đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, trên tay cầm những nhành hoa trắng tiễn 731 liệt sĩ về Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố, tôi nghĩ rằng câu nói ấy vẫn đang được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Không cần những lời quá lớn lao. Một nhành hoa trắng trên tay một em học sinh. Một người dân đứng lặng bên đường. Một người lính trẻ nâng quách của người lính thế hệ cha ông. Một đoàn xe chậm rãi đi qua thành phố.
Có những bài học về lịch sử không cần giảng giải nhiều. Chỉ cần nhìn những hình ảnh ấy, nếu chịu khó lắng lòng lại, người ta sẽ hiểu.
Tôi nghĩ việc tìm kiếm, quy tập và tổ chức truy điệu, an táng trang trọng cho 731 liệt sĩ lần này mang một ý nghĩa vượt ra ngoài một sự kiện.
Đó là cách một đất nước ứng xử với những người đã hy sinh cho mình.
Đó cũng là cách thế hệ hôm nay trả một phần món nợ với quá khứ.
Sau gần sáu mươi năm, từng bản đồ cũ, từng lời kể của nhân chứng, từng dấu tích trong lòng đất được lần tìm. Từ ngày 23/6 đến đầu tháng 10 năm 2026, lực lượng tìm kiếm đã làm việc liên tục để đưa 731 liệt sĩ trở về nơi an nghỉ. Chiến dịch tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính các liệt sĩ vẫn còn tiếp tục.
Tôi trân trọng điều đó. Bởi một đất nước muốn đi xa không chỉ cần biết mình sẽ đi về đâu, mà còn phải nhớ mình đã đi từ đâu tới.
Một dân tộc biết cúi đầu trước những người đã hy sinh là một dân tộc còn giữ được cội nguồn của mình.
Người Việt Nam từ bao đời vẫn dạy con cháu: Uống nước nhớ nguồn. Ăn quả nhớ người trồng cây.
Những câu ấy chúng ta đã nghe từ nhỏ nên đôi khi thấy quá quen.
Nhưng đứng trước 731 người đã nằm lại gần sáu mươi năm dưới một công viên giữa thành phố, tôi bỗng thấy những câu rất quen ấy lại có một ý nghĩa vô cùng cụ thể.
Nguồn nước mà chúng ta đang uống hôm nay có mồ hôi và máu của những người đi trước.
Trái ngọt mà chúng ta đang hưởng hôm nay được vun trồng bằng cả những tuổi hai mươi chưa kịp sống hết cuộc đời mình.
Và cũng từ đó, tôi nghĩ nhiều đến thế hệ trẻ hôm nay.
Tôi không cho rằng các em phải sống giống thế hệ cha anh.
Mỗi thời đại có một nhiệm vụ khác nhau.
Ngày trước, khi đất nước có chiến tranh, có những người trẻ phải cầm súng.
Ngày nay, điều đất nước cần ở người trẻ trước hết là học tập cho tốt, làm việc cho tử tế, làm chủ khoa học và công nghệ, sống có trách nhiệm với gia đình và xã hội.
Nếu cha anh đã bảo vệ từng tấc đất thì thế hệ hôm nay phải làm cho mảnh đất ấy giàu đẹp hơn.
Nếu thế hệ trước đã giành lấy hòa bình thì thế hệ sau phải biết dùng hòa bình ấy để xây dựng đất nước.
Tôi vẫn nghĩ rằng yêu nước trong thời bình nhiều khi bắt đầu từ những việc rất bình thường. Một người kỹ sư làm đúng trách nhiệm của mình. Một người thầy dạy học bằng lương tâm. Một bác sĩ tận tình với bệnh nhân. Một cán bộ không làm điều trái với lợi ích của người dân. Một doanh nhân làm ăn chân chính. Một sinh viên chịu khó học một ngoại ngữ, làm chủ một công nghệ mới. Một người trẻ biết đặt lợi ích chung bên cạnh lợi ích của bản thân.
Tất cả những điều ấy, nếu hàng triệu người cùng làm, chính là sức mạnh của đất nước.
Tôi cũng muốn nói với những người trẻ một điều mà càng đi qua nhiều năm tháng làm việc tôi càng thấm thía: Đừng bao giờ nghĩ rằng đóng góp cho đất nước nhất thiết phải bắt đầu bằng những việc thật lớn.
Hãy bắt đầu bằng việc làm tốt công việc đang ở trước mặt mình. Làm cho cơ quan mình tốt hơn một chút. Làm cho quê hương mình tốt hơn một chút. Làm cho gia đình mình ấm áp hơn một chút. Giúp một người bên cạnh mình tiến bộ hơn một chút. Và mỗi ngày tự làm mình tốt hơn ngày hôm qua một chút. Từng “một chút” như thế cộng lại sẽ thành sức mạnh rất lớn.
Tôi đã làm nghề hơn ba mươi năm và càng về sau càng hiểu rằng không có một đất nước mạnh nào được tạo nên chỉ từ những lời nói lớn. Nó được xây dựng từ hàng triệu con người bình thường, ngày ngày làm công việc của mình một cách nghiêm túc và tử tế.
Ngày hôm qua, 731 người lính đã về nơi an nghỉ. Nhưng tôi tin hành trình của các anh chưa kết thúc. Bởi từ hôm nay, câu chuyện ấy sẽ còn được kể. Một người ông kể cho cháu. Một người cha kể cho con. Một người thầy kể cho học trò. Và đâu đó, một người trẻ có thể dừng lại vài phút giữa cuộc sống rất nhanh của thời đại số để đọc về những con người đã ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ.
Nếu sau câu chuyện ấy, người trẻ biết quý hơn bữa cơm gia đình, quý hơn một buổi sáng bình yên, quý hơn lá cờ đang bay trên quê hương mình; biết học hành nghiêm túc hơn, sống tử tế hơn và có trách nhiệm hơn với cộng đồng – thì sự hy sinh của những người đi trước vẫn đang tiếp tục gieo những hạt giống tốt đẹp vào tương lai.
Tôi lại nhớ câu nói của người lính già: “Có được hòa bình hôm nay gian nan lắm. Cố mà giữ.”
Tôi muốn nói thêm: Không chỉ cố mà giữ lấy hòa bình. Hãy làm cho hòa bình ấy trở nên có ý nghĩa.
Giữ bằng cách yêu thương nhau hơn. Giữ bằng cách không quên lịch sử. Giữ bằng cách làm cho đất nước mạnh hơn. Giữ bằng tri thức, bằng lao động, bằng khoa học, bằng sự tử tế và trách nhiệm.
Và trên hết, giữ bằng một niềm tin rất giản dị rằng mỗi thế hệ khi nhận lại đất nước từ thế hệ trước đều phải có trách nhiệm trao lại cho thế hệ sau một đất nước tốt đẹp hơn.
Có lẽ đó cũng là cách thiết thực nhất để chúng ta nói lời cảm ơn với 731 người vừa trở về.
Và với biết bao người đã nằm lại trên khắp mọi miền đất nước mà đến hôm nay vẫn chưa tìm thấy.
Các anh đã làm phần việc của thế hệ mình.
Phần còn lại là của chúng ta.

