Skip to content

Phát huy truyền thống, đổi mới tư duy, kiến tạo an ninh nguồn nước quốc gia trong bối cảnh mới

81 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀNH THỦY LỢI VIỆT NAM

Phát huy truyền thống, đổi mới tư duy, kiến tạo an ninh nguồn nước quốc gia trong bối cảnh mới

Ngày 28 tháng 8 năm 2026 đánh dấu 81 năm Ngày truyền thống ngành Thủy lợi Việt Nam (28/8/1945 – 28/8/2026).

Đỗ Đức Dũng[1] – 28/8/2026

[1] Bài viết chỉ nhằm mục đích chia sẻ góc nhìn cá nhân nhân ngày kỹ niệm, không đại diện cho bất kỳ tập thể nào.   

Ngày 28/8/1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Tuyên cáo thành lập Bộ Giao thông Công chính, cơ quan được giao quản lý công tác thủy lợi cùng với giao thông và bưu điện. Đây được xem là dấu mốc hình thành tổ chức quản lý nhà nước về thủy lợi của nước Việt Nam mới. [1]

Ngày 21/8/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1135/QĐ-TTg, quy định hằng năm lấy ngày 28 tháng 8 là “Ngày truyền thống của ngành Thủy lợi Việt Nam”. Việc tổ chức ngày truyền thống nhằm giáo dục truyền thống, động viên phong trào thi đua lao động, nâng cao ý thức tổ chức, kỷ luật và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành. [2]

Trải qua 81 năm xây dựng và phát triển, ngành Thủy lợi đã đồng hành cùng dân tộc trong kháng chiến, kiến quốc, khôi phục kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, phòng, chống thiên tai và nâng cao đời sống nhân dân.

Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm nguồn nước, gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, đô thị hóa nhanh, phát triển thượng nguồn các lưu vực sông xuyên biên giới và yêu cầu đổi mới mô hình quản trị quốc gia, ngành Thủy lợi đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi có tính bước ngoặt.

Yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là tiếp tục đầu tư xây dựng công trình, mà quan trọng hơn là phải chuyển từ tư duy “thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp” sang tư duy “quản trị nước phục vụ an ninh nguồn nước, phát triển kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường”.

I. TẦM VÓC CỦA NGÀNH THỦY LỢI VIỆT NAM

1. Thủy lợi là nền móng của an ninh lương thực quốc gia

Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp thường xuyên phải đối mặt với hạn hán, úng ngập, lũ lụt, xâm nhập mặn và thiếu lương thực. Trong hoàn cảnh đó, thủy lợi không chỉ là một ngành kỹ thuật mà còn là điều kiện sống còn đối với sản xuất và đời sống nhân dân.

Theo thông tin được công bố tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Thủy lợi Việt Nam tháng 8/2025, cả nước có hơn 86.000 công trình thủy lợi, gồm 7.315 hồ chứa, gần 20.000 trạm bơm, 27.754 cống và khoảng 291.000 km kênh mương. [3]

Nhờ có thủy lợi, nhiều vùng đất trước đây chỉ sản xuất được một vụ với năng suất thấp đã có thể sản xuất hai hoặc ba vụ. Nhiều vùng chua phèn, nhiễm mặn, thiếu nước hoặc thường xuyên ngập úng được cải tạo thành những khu vực sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung.

Các hệ thống thủy lợi lớn như Bắc Hưng Hải, Bắc Nam Hà, Dầu Tiếng – Phước Hòa, Quản Lộ – Phụng Hiệp, Cái Lớn – Cái Bé, cùng hệ thống kiểm soát lũ, cấp nước và tiêu thoát nước tại Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và nhiều vùng khác đã làm thay đổi căn bản điều kiện sản xuất. [3]

Sự phát triển của thủy lợi đã góp phần quan trọng vào quá trình bảo đảm an ninh lương thực, mở rộng sản xuất hàng hóa và nâng cao năng lực xuất khẩu nông sản của Việt Nam, được lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Hội Thủy lợi Việt Nam nhấn mạnh tại Lễ kỷ niệm 80 năm của ngành. [3]

Nếu giống, phân bón, kỹ thuật canh tác và tổ chức sản xuất quyết định năng suất trên đồng ruộng thì thủy lợi tạo ra điều kiện nền tảng để các yếu tố đó phát huy tác dụng. Vì vậy, những thành tựu về an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp của Việt Nam không thể tách rời thành tựu của ngành Thủy lợi.

2. Thủy lợi là kết cấu hạ tầng nền tảng của nền kinh tế

Tầm vóc của ngành Thủy lợi không chỉ được đo bằng số lượng hồ, đập, trạm bơm hoặc chiều dài kênh mương. Giá trị lớn hơn nằm ở không gian phát triển và khả năng bảo vệ sản xuất, dân cư mà các hệ thống thủy lợi đã tạo ra.

Hiện nay, các công trình thủy lợi đang trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ nhiều lĩnh vực:

  • Cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi;
  • Cấp nước sinh hoạt cho người dân nông thôn và một số khu vực đô thị;
  • Cấp nước cho công nghiệp, dịch vụ và các khu kinh tế;
  • Tiêu thoát nước cho vùng sản xuất, khu dân cư và đô thị;
  • Phòng, chống hạn hán, lũ lụt, úng ngập và xâm nhập mặn;
  • Bảo vệ dân cư, cơ sở hạ tầng và các vùng sản xuất tập trung;
  • Cải thiện môi trường, duy trì cảnh quan và hệ sinh thái;
  • Hỗ trợ phát triển giao thông, du lịch, thủy sản và năng lượng.

Quy mô và tầm vóc của hạ tầng thủy lợi thể hiện rõ tại các vùng kinh tế trọng điểm. Ở lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình, khoảng 2.260 công trình thủy lợi đang cấp nước cho 860.000 ha đất canh tác và 151.000 ha nuôi trồng thủy sản; cung cấp khoảng 870 triệu m³ nước cho sinh hoạt, công nghiệp; đồng thời tiêu thoát nước cho khoảng 1,37 triệu ha. [4]

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, mạng lưới hiện có 15 hệ thống thủy lợi, hơn 91.700 km kênh, gần 30.000 cống, hơn 3.500 trạm bơm và 22 hồ chứa, phục vụ khoảng 2,5 triệu ha sản xuất. Trên nền tảng đó, Quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Cửu Long thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu đến năm 2030 bảo đảm nguồn nước sinh hoạt cho khoảng 17–18 triệu người và kiểm soát mặn cho khoảng 1,35 triệu ha đất nông nghiệp. [4] [14]

Ở miền Trung, nơi sông ngắn, dốc và mùa mưa – mùa khô phân hóa mạnh, vai trò đa mục tiêu của hồ chứa càng nổi bật. Tại Bắc Trung Bộ, hồ Bản Mồng có dung tích gần 225 triệu m³, tưới cho gần 18.900 ha và bổ sung khoảng 22 m³/s cho hạ du sông Cả trong mùa kiệt. Tại thành phố Huế, tổng dung tích hữu ích của ba hồ Tả Trạch, Bình Điền và Hương Điền đạt 964 triệu m³; theo phương án vận hành mùa khô năm 2026, nguồn nước này có thể duy trì lưu lượng khoảng 70 m³/s về sông Hương đến cuối tháng 8. [15] [16]

Lưu vực sông Đồng Nai và vùng phụ cận là không gian thủy lợi đặc biệt quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hệ thống công trình trên lưu vực không chỉ phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn bảo đảm nguồn nước cho đô thị, công nghiệp, phát điện, duy trì dòng chảy hạ du và kiểm soát xâm nhập mặn.

Nền tảng điều tiết của lưu vực là chuỗi hồ chứa lớn trên dòng chính sông Đồng Nai và các phụ lưu, gồm Đơn Dương, Đại Ninh, Đồng Nai 2, Đồng Nai 3, Đắk R’Tih, Hàm Thuận, Trị An, Thác Mơ, Cần Đơn và Dầu Tiếng. Tính đến ngày 30/4/2026, tổng lượng nước trữ của 10 hồ chứa quan trọng này đạt khoảng 5,224 tỷ m³, tương đương 57% tổng dung tích. Ngoài ra, 71 hồ và cụm hồ thủy lợi có dung tích từ 3 triệu m³ trở lên đang tích trữ khoảng 736,1 triệu m³, đạt khoảng 47% dung tích thiết kế. Trên lưu vực còn có khoảng 438 công trình cấp nước tập trung phục vụ sinh hoạt, sản xuất và dịch vụ, với tổng lượng nước dự kiến cung cấp trong mùa cạn khoảng 950 triệu m³. [17] Đây là số liệu về trạng thái tích nước tại một thời điểm cụ thể, phản ánh quy mô điều tiết và khả năng phối hợp liên hồ của toàn lưu vực, không phải tổng dung tích thiết kế của các công trình. [18]

Nổi bật trong vùng là hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa, một công trình thủy lợi liên vùng, liên tỉnh có ý nghĩa đối với an ninh quốc gia. Theo số liệu công bố năm 2024, hệ thống có nhiệm vụ cấp nước tưới cho 104.828 ha đất nông nghiệp; cấp lưu lượng 43,8 m³/s cho sinh hoạt và công nghiệp tại Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước và Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời đẩy mặn, hỗ trợ nguồn nước cho 28.800 ha ven sông Sài Gòn và 32.317 ha ven sông Vàm Cỏ Đông. Công trình còn tham gia cắt giảm lũ, duy trì dòng chảy, cải thiện môi trường và chất lượng nước vùng hạ du. [19]

Những lát cắt vùng miền ấy cho thấy thủy lợi Việt Nam không vận hành theo một mô hình duy nhất: lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình nổi bật với nhiệm vụ cấp nước, tiêu úng và phòng, chống lũ cho vùng dân cư, sản xuất tập trung; Đồng bằng sông Cửu Long dựa vào mạng lưới kênh, cống để điều tiết nước ngọt, nước lợ, kiểm soát mặn và thích ứng với sụt lún; còn miền Trung cần các hồ chứa đa mục tiêu để cắt lũ, tích nước và bổ sung dòng chảy mùa kiệt. Thủy lợi lưu vực sông Đồng Nai không chỉ được đo bằng diện tích tưới mà là hệ thống hạ tầng nước đa mục tiêu, kết nối các hồ thủy lợi và thủy điện với nhu cầu cấp nước của một trong những vùng đô thị, công nghiệp và năng lượng lớn nhất cả nước. Chính khả năng đồng thời bảo đảm an ninh nước, an toàn dân sinh và không gian phát triển đã làm nên tầm vóc quốc gia của ngành thủy lợi.

Thủy lợi vì thế phải được nhìn nhận là một bộ phận quan trọng của kết cấu hạ tầng quốc gia, có quan hệ trực tiếp với an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh môi trường và an ninh con người.

3. Thủy lợi góp phần cải biến điều kiện tự nhiên và định hình không gian phát triển

Lịch sử phát triển đất nước cũng là lịch sử con người Việt Nam thích ứng với nước, trị thủy và từng bước cải biến điều kiện tự nhiên.

Tại đồng bằng sông Hồng, hệ thống đê điều, hồ chứa, trạm bơm và công trình tưới tiêu đã góp phần bảo vệ trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và dân cư lớn nhất miền Bắc. Các công trình thủy lợi vừa bảo đảm nguồn nước sản xuất, vừa phòng, chống lũ và tiêu thoát nước cho vùng đồng bằng có mật độ dân số cao.

Tại miền Trung, hệ thống hồ chứa đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều hòa nguồn nước giữa mùa mưa ngắn, tập trung và mùa khô kéo dài. Các công trình vừa góp phần giảm lũ, vừa tích trữ nước phục vụ dân sinh, nông nghiệp, công nghiệp và phát triển đô thị.

Tại Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, các hồ chứa, đập dâng và hệ thống kênh dẫn đã mở rộng không gian phát triển cây công nghiệp, nông nghiệp hàng hóa, các khu công nghiệp và đô thị.

Tại đồng bằng sông Cửu Long, hệ thống kênh, cống, đê bao, bờ bao và công trình kiểm soát nước đã góp phần khai phá đất đai, rửa phèn, tiêu úng, kiểm soát mặn, giữ ngọt và hình thành một trong những vùng sản xuất lúa gạo, thủy sản và trái cây quan trọng của thế giới.

Các công trình thủy lợi không chỉ là tài sản vật chất. Đó còn là kết tinh của trí tuệ, công sức, tinh thần trách nhiệm và sự hy sinh của nhiều thế hệ cán bộ, kỹ sư, công nhân và người dân.

4. Thủy lợi là một thành tựu lớn về khoa học, kỹ thuật và tổ chức quản lý

Trong 81 năm, ngành Thủy lợi đã hình thành một hệ thống tương đối hoàn chỉnh về đào tạo, nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, quy hoạch, khảo sát, thiết kế, xây dựng và quản lý khai thác công trình.

Đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ sư và người lao động Việt Nam đã từng bước làm chủ nhiều lĩnh vực chuyên môn phức tạp:

  • Thủy văn và thủy lực sông;
  • Quy hoạch lưu vực sông và quy hoạch thủy lợi;
  • Thiết kế, xây dựng và quản lý đập, hồ chứa;
  • Công trình ngăn sông, kiểm soát triều và xâm nhập mặn;
  • Tưới, tiêu và thoát nước cho vùng đồng bằng;
  • Dự báo hạn hán, lũ lụt, ngập úng và xâm nhập mặn;
  • Quản lý an toàn đập, hồ chứa và vùng hạ du;
  • Điều hành hệ thống thủy lợi liên tỉnh, liên vùng;
  • Ứng dụng vật liệu mới, công nghệ thi công và xử lý nền móng;
  • Ứng dụng mô hình toán, viễn thám, hệ thống thông tin địa lý, tự động hóa và công nghệ số.

Từ chỗ phụ thuộc nhiều vào chuyên gia và công nghệ nước ngoài, Việt Nam đã có khả năng tự khảo sát, quy hoạch, thiết kế, xây dựng và vận hành phần lớn các loại công trình thủy lợi. Ngành cũng từng bước tham gia giải quyết những bài toán có quy mô lưu vực, vùng và liên vùng.

Đây là một tài sản trí tuệ rất lớn, cần tiếp tục được kế thừa, cập nhật và phát triển trong giai đoạn mới.

5. Thủy lợi là lực lượng tuyến đầu trong phòng, chống thiên tai

Nhiều loại hình thiên tai gây thiệt hại nghiêm trọng tại Việt Nam gắn trực tiếp với nước, gồm bão, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở, hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn. Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi quốc gia xác định việc chủ động phòng, chống thiên tai, bảo đảm an toàn công trình và cấp, tiêu thoát nước là những nhiệm vụ có quan hệ chặt chẽ. [6]

Trong những tình huống đó, hệ thống hồ chứa, đê điều, cống kiểm soát nước, trạm bơm tiêu, kênh dẫn và các công trình phòng, chống thiên tai đóng vai trò như những tuyến phòng thủ bảo vệ người dân, sản xuất và cơ sở hạ tầng.

Đằng sau mỗi phương án vận hành hồ chứa, mỗi đợt chống hạn, tiêu úng hoặc ứng phó với lũ lớn là sự làm việc liên tục của đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ sư, công nhân vận hành và lực lượng tại cơ sở.

Vai trò này cho thấy ngành Thủy lợi không chỉ phục vụ phát triển trong điều kiện bình thường mà còn góp phần bảo đảm an toàn quốc gia và duy trì hoạt động của nền kinh tế khi xảy ra thiên tai.

II. NHỮNG HẠN CHẾ CẦN THẲNG THẮN NHÌN NHẬN

Kỷ niệm ngày truyền thống không chỉ để tự hào về quá khứ. Ý nghĩa thiết thực hơn là nhìn rõ những hạn chế, bất cập đang cản trở ngành hoàn thành sứ mệnh trong giai đoạn mới.

1. Tư duy phát triển còn nặng về công trình, nhẹ về quản trị nước

Trong một thời gian dài, thành tựu thủy lợi thường được đánh giá chủ yếu qua số lượng công trình, dung tích hồ chứa, công suất trạm bơm hoặc diện tích tưới theo thiết kế.

Tuy nhiên, có công trình chưa đồng nghĩa với sử dụng nước hiệu quả. Khi xảy ra thiếu nước, giải pháp được ưu tiên nhiều khi vẫn là đề xuất xây dựng thêm công trình, trong khi chưa xem xét đầy đủ các khả năng khác như:

  • Điều chỉnh nhu cầu sử dụng nước;
  • Giảm tổn thất trên hệ thống;
  • Thay đổi cơ cấu cây trồng và lịch thời vụ;
  • Áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm;
  • Thu gom, xử lý và tái sử dụng nước;
  • Kết nối, điều chuyển nước giữa các hệ thống;
  • Phối hợp khai thác nước mặt, nước dưới đất và nước mưa;
  • Áp dụng các giải pháp dựa vào tự nhiên.

Hệ quả là đầu tư tại một số nơi còn phân tán, thiếu đồng bộ giữa công trình đầu mối và hệ thống dẫn nước, giữa xây dựng mới và duy tu, giữa năng lực thiết kế và khả năng tổ chức vận hành.

Ngành Thủy lợi cần chuyển từ tư duy “xây thêm công trình để tăng nguồn cung” sang tư duy “quản trị tổng hợp cả nguồn cung, nhu cầu sử dụng và rủi ro liên quan đến nước”.

2. Nhiều công trình xuống cấp nhưng nguồn lực bảo trì chưa tương xứng

Một bộ phận không nhỏ hồ chứa, đập, trạm bơm, cống và kênh mương đã được xây dựng từ nhiều thập kỷ trước. Nhiều công trình nhỏ thiếu hồ sơ kỹ thuật đầy đủ, thiết bị quan trắc, hệ thống cảnh báo và phương án ứng phó sự cố. [3][7]

Trong khi đó, nguồn lực thường được ưu tiên cho đầu tư xây dựng mới hơn là bảo trì, sửa chữa và nâng cấp tài sản hiện có.

Nếu không thay đổi cách phân bổ nguồn lực, có thể xuất hiện một nghịch lý: tiếp tục xây dựng thêm công trình trong khi khối tài sản thủy lợi rất lớn đã hình thành lại xuống cấp nhanh hơn khả năng sửa chữa.

Đặc biệt, an toàn đập và hồ chứa không thể chỉ được kiểm tra theo từng đợt trước mùa mưa. Đây phải là quá trình quản lý rủi ro liên tục, dựa trên kết quả quan trắc, kiểm định, dự báo và đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với vùng hạ du.

3. Hiệu quả sử dụng nước và năng suất nước còn thấp

Nhiều hệ thống thủy lợi được thiết kế chủ yếu để phục vụ cây lúa và phương thức tưới truyền thống, chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi sang nông nghiệp đa giá trị, cây trồng cạn, nông nghiệp công nghệ cao và tưới chính xác.

Tổn thất nước trên một số hệ thống còn lớn. Việc đo đếm nước chưa phổ biến. Phân phối nước nhiều nơi vẫn dựa chủ yếu vào kinh nghiệm. Giá trị kinh tế tạo ra trên một đơn vị nước chưa trở thành chỉ tiêu trung tâm trong lập kế hoạch và đánh giá hiệu quả thủy lợi. [3][7]

Trong điều kiện nguồn nước ngày càng khan hiếm, ngành Thủy lợi không chỉ cần trả lời câu hỏi “đã cấp được bao nhiêu nước”, mà còn phải xác định rõ mỗi mét khối nước đã tạo ra bao nhiêu giá trị kinh tế, phục vụ được bao nhiêu người và duy trì được những giá trị sinh thái nào.

Việc đánh giá hiệu quả quản lý, khai thác hệ thống thủy lợi cần dựa trên một bộ chỉ tiêu có thể đo lường và kiểm chứng, bao gồm:

  • Tỷ lệ tổn thất nước trên hệ thống;
  • Năng suất sử dụng nước, được xác định bằng giá trị kinh tế hoặc sản lượng tạo ra trên một đơn vị nước;
  • Độ tin cậy của dịch vụ cấp nước;
  • Mức độ đáp ứng nhu cầu của từng nhóm đối tượng sử dụng;
  • Chi phí cung cấp một đơn vị nước;
  • Hiệu quả sử dụng năng lượng trong quá trình lấy nước, dẫn nước, tưới và tiêu thoát nước;
  • Mức độ công bằng trong phân phối và tiếp cận nguồn nước;
  • Mức độ duy trì các yêu cầu về môi trường và hệ sinh thái.

4. Quản lý còn chia cắt theo địa giới, công trình và lĩnh vực

Nước vận động theo lưu vực sông, trong khi hoạt động quản lý vẫn phải kết hợp với địa giới hành chính và thẩm quyền của từng cấp. Luật Tài nguyên nước năm 2023 quy định quản lý tài nguyên nước phải thống nhất theo lưu vực sông, theo nguồn nước, kết hợp với quản lý theo địa giới hành chính. Đây là căn cứ quan trọng để tăng cường phối hợp giữa quản lý nguồn nước với quy hoạch, xây dựng và vận hành công trình thủy lợi. [9]

Trong thực tế vẫn còn những khoảng trống hoặc chồng lấn giữa:

  • Quản lý tài nguyên nước và quản lý thủy lợi;
  • Điều hòa, phân phối nguồn nước và vận hành công trình;
  • Quản lý hồ chứa, đê điều và phòng, chống thiên tai;
  • Quản lý nước cho nông nghiệp, dân sinh, đô thị và công nghiệp;
  • Quản lý số lượng nước và kiểm soát chất lượng nước;
  • Quy hoạch lưu vực sông, quy hoạch thủy lợi và quy hoạch phát triển của địa phương.

Từ ngày 1/3/2025, Nghị định số 35/2025/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Môi trường có hiệu lực, tạo khuôn khổ tổ chức thống nhất hơn giữa các lĩnh vực nông nghiệp, tài nguyên nước và môi trường. Tuy nhiên, hiệu quả quản trị tích hợp vẫn phụ thuộc vào việc liên thông dữ liệu, phối hợp nghiệp vụ và xác định rõ trách nhiệm ra quyết định. [10]

Thách thức đặt ra là phải chuyển từ tình trạng “nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý nước” sang xây dựng “một hệ thống phối hợp và ra quyết định thống nhất về nước”.

5. Dữ liệu còn phân tán, thiếu liên thông và chưa đáp ứng yêu cầu điều hành theo thời gian thực

Nhiều cơ quan, đơn vị và địa phương đã xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ, phần mềm quản lý và hệ thống giám sát. Tuy nhiên, dữ liệu còn phân tán theo từng dự án, đơn vị và địa phương; tiêu chuẩn dữ liệu chưa thống nhất; việc chia sẻ còn hạn chế; một số trạm quan trắc chưa tự động hoặc chưa truyền số liệu ổn định. [3][7]

Một số hệ thống số mới dừng ở việc số hóa biểu mẫu, lưu trữ tài liệu hoặc hiển thị thông tin trên bản đồ, chưa hỗ trợ đầy đủ chuỗi nghiệp vụ quản lý.

Một hệ thống thủy lợi số hoàn chỉnh phải hỗ trợ liên tục toàn bộ quá trình:

  • Quan trắc → Dự báo → Mô phỏng → Xây dựng và so sánh phương án → Ra quyết định → Tổ chức thực hiện → Giám sát và đánh giá

Nếu dữ liệu không đầy đủ, thiếu chính xác hoặc không được cập nhật kịp thời thì các mô hình dự báo và công cụ trí tuệ nhân tạo cũng không thể tạo ra kết quả đáng tin cậy.

Vì vậy, nút thắt trước mắt của thủy lợi thông minh không chỉ là thuật toán và phần mềm, mà trước hết là chất lượng, tính liên tục, mức độ chuẩn hóa và khả năng liên thông của dữ liệu.

6. Cơ chế tài chính và mô hình quản lý khai thác chưa tạo đủ động lực

Dịch vụ thủy lợi có giá trị kinh tế và xã hội rất lớn, nhưng cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, định giá và thanh toán dịch vụ tại nhiều nơi chưa phản ánh đầy đủ chất lượng phục vụ.

Năng lực của các tổ chức quản lý, khai thác công trình còn chênh lệch. Một số đơn vị thiếu nhân lực kỹ thuật, thiếu kinh phí bảo trì và chưa có đủ động lực để tiết kiệm nước, nâng cao chất lượng dịch vụ hoặc đổi mới công nghệ.

Sự tham gia của người sử dụng nước, hợp tác xã và doanh nghiệp còn hạn chế. Việc xã hội hóa chưa mạnh, trong khi trách nhiệm giữa Nhà nước, đơn vị quản lý khai thác và người hưởng lợi chưa phải lúc nào cũng được xác định rõ ràng.

Cơ chế tài chính hiện nay cần được đổi mới theo hướng thanh toán dựa trên chất lượng và kết quả cung cấp dịch vụ, thay vì chủ yếu dựa trên diện tích hoặc khối lượng nhiệm vụ được giao.

7. Năng lực dự báo và thích ứng chưa theo kịp mức độ cực đoan của thiên tai

Nhiều tiêu chuẩn, quy trình và phương án vận hành được xây dựng trên cơ sở chuỗi số liệu quan trắc trong quá khứ. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu đang làm thay đổi tần suất, cường độ và quy luật xuất hiện của các hiện tượng khí tượng, thủy văn. [3][7]

Mưa cực đoan, lũ quét, sạt lở, hạn hán kéo dài, nước biển dâng và xâm nhập mặn có thể vượt khỏi những giới hạn từng được coi là bình thường. Nguồn nước xuyên biên giới cũng chịu tác động ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu và hoạt động phát triển ở thượng nguồn.

Nếu tiếp tục thiết kế và vận hành chủ yếu dựa trên giả định “tương lai sẽ giống quá khứ”, rủi ro sai lệch sẽ ngày càng lớn.

Ngành Thủy lợi cần chuyển từ cách tiếp cận dựa chủ yếu vào tần suất lịch sử sang quản trị rủi ro trong điều kiện có nhiều yếu tố bất định, trong đó phải tính đến các kịch bản cực đoan và khả năng xảy ra sự cố vượt thiết kế.

8. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều

Ngành Thủy lợi đã hình thành đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên, chất lượng nhân lực tại các cấp và các địa phương chưa đồng đều, nhất là ở cấp cơ sở và các đơn vị quản lý công trình nhỏ.

Một bộ phận cán bộ mạnh về kỹ thuật công trình nhưng còn hạn chế về phân tích dữ liệu, kinh tế nước, quản trị rủi ro, môi trường, truyền thông cộng đồng và phối hợp liên ngành.

Trong khi đó, quá trình chuyển giao kinh nghiệm giữa các thế hệ chưa được tổ chức thành hệ thống. Nhiều tri thức thực địa quan trọng vẫn chủ yếu tồn tại dưới dạng kinh nghiệm cá nhân, có nguy cơ mai một khi đội ngũ chuyên gia lớn tuổi nghỉ công tác.

III. BỐI CẢNH MỚI ĐẶT RA CHO NGÀNH THỦY LỢI

1. Biến đổi khí hậu và thiên tai cực đoan trở thành trạng thái bình thường mới

Biến đổi khí hậu không còn là nguy cơ trong tương lai mà đã tác động trực tiếp đến hoạt động của các hệ thống thủy lợi.

Các hiện tượng mưa cực đoan, lũ lớn, hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn sâu, sạt lở bờ sông, bờ biển và nước biển dâng xuất hiện với mức độ ngày càng khó lường. [3][7]

Điều này làm thay đổi các điều kiện vốn được sử dụng để thiết kế và vận hành công trình. Một hệ thống được xem là an toàn và đủ năng lực trong quá khứ có thể không còn đáp ứng yêu cầu trong tương lai.

2. Nhu cầu sử dụng nước ngày càng đa dạng và cạnh tranh

Nguồn nước không còn chỉ phục vụ nông nghiệp. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, phát triển năng lượng, du lịch và dịch vụ đang làm gia tăng nhanh nhu cầu sử dụng nước.

Khi xảy ra thiếu nước, sự cạnh tranh giữa sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng và môi trường sẽ trở nên gay gắt hơn.

Do đó, phân bổ nước không chỉ là bài toán kỹ thuật mà còn là bài toán kinh tế, xã hội và quản trị. Việc ra quyết định phải bảo đảm công bằng, minh bạch, có thứ tự ưu tiên và có cơ sở dữ liệu rõ ràng.

3. Phát triển thượng nguồn làm thay đổi chế độ dòng chảy

Việt Nam nằm ở hạ lưu của nhiều lưu vực sông quốc tế. Hoạt động xây dựng hồ chứa, chuyển nước, khai thác tài nguyên và phát triển kinh tế ở thượng nguồn có thể làm thay đổi tổng lượng nước, chế độ dòng chảy, lượng phù sa và chất lượng nước về Việt Nam. [5][9]

Đây là thách thức đặc biệt lớn đối với đồng bằng sông Cửu Long và một số lưu vực sông ở miền Bắc, miền Trung.

Ngành Thủy lợi vì vậy cần tăng cường năng lực theo dõi, dự báo, xây dựng kịch bản và chủ động điều chỉnh hệ thống công trình để thích ứng với những thay đổi từ bên ngoài lãnh thổ.

4. Tổ chức bộ máy và phương thức quản trị quốc gia đang thay đổi

Việc tổ chức Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo Nghị định số 35/2025/NĐ-CP tạo điều kiện kết nối quản lý nông nghiệp, thủy lợi, tài nguyên nước, đất đai, môi trường, đê điều và phòng, chống thiên tai trong cùng một bộ quản lý đa ngành. [10]

Đồng thời, quá trình phân cấp, phân quyền và tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình mới đặt ra yêu cầu phải xác định rõ nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp. [11]

Nếu phân cấp nhưng không chuyển giao đồng thời nguồn lực, dữ liệu, công cụ và nhân lực thì địa phương khó có thể thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao.

Ngược lại, nếu không phân định rõ trách nhiệm giải trình thì có thể xuất hiện khoảng trống quản lý, nhất là đối với hệ thống công trình liên xã, liên tỉnh và lưu vực sông.

5. Khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo mở ra phương thức quản lý mới

Sự phát triển của cảm biến, Internet vạn vật, viễn thám, mô hình toán, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo đang tạo điều kiện để chuyển từ quản lý thủ công sang giám sát và điều hành theo thời gian thực.

Các công nghệ mới có thể hỗ trợ:

  • Quan trắc tự động mưa, mực nước, lưu lượng và chất lượng nước;
  • Dự báo dòng chảy, hạn hán, lũ lụt và xâm nhập mặn;
  • Giám sát an toàn đập và phát hiện sớm dấu hiệu bất thường;
  • Mô phỏng các phương án vận hành hồ chứa và hệ thống thủy lợi;
  • Tối ưu hóa phân phối nước;
  • Cảnh báo sớm cho chính quyền và người dân;
  • Đánh giá hiệu quả sử dụng nước;
  • Hỗ trợ ra quyết định trong điều kiện có nhiều mục tiêu và ràng buộc.

Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng với dữ liệu đáng tin cậy, quy trình nghiệp vụ rõ ràng và trách nhiệm con người cụ thể.

IV. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY LỢI TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Chiến lược Thủy lợi Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định định hướng phát triển thủy lợi theo hướng hiện đại, linh hoạt, đa mục tiêu; bảo đảm cấp nước, tiêu thoát nước, phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và phục vụ phát triển bền vững. [5][6]

Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần bám sát ba đột phá được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định cho năm 2026: phát triển thủy lợi thông minh; khai thác hiệu quả công trình; và phát triển hạ tầng thủy lợi có vai trò dẫn dắt phát triển. Đồng thời, cần rà soát hệ thống chiến lược, quy hoạch và thúc đẩy chuyển đổi số phục vụ chỉ đạo, điều hành. [7]

1. Chuyển từ quản lý công trình sang quản trị an ninh nguồn nước

Công trình vẫn giữ vai trò rất quan trọng, nhưng phải được đặt trong một hệ thống quản trị rộng hơn.

Quản trị nước hiện đại phải bao quát đầy đủ sáu khâu liên kết chặt chẽ:

  • Nguồn nước → Công trình → Điều hòa và phân phối → Khai thác và sử dụng → Thu hồi và tái sử dụng → Bảo vệ hệ sinh thái

Mục tiêu cuối cùng không phải chỉ là vận hành công trình đúng quy trình, mà phải bảo đảm cung cấp đủ nước, đúng thời điểm, đúng chất lượng; đồng thời giảm thiểu rủi ro và phân bổ nước hợp lý giữa các đối tượng sử dụng.

Quy hoạch thủy lợi phải được gắn kết chặt chẽ với quy hoạch tài nguyên nước, quy hoạch lưu vực sông, quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và chiến lược phát triển nông nghiệp.

2. Quản lý theo lưu vực, vận hành liên hồ và liên hệ thống

Các vấn đề về nguồn nước hiện nay thường vượt ra ngoài ranh giới của một công trình hoặc một địa phương. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế điều phối theo lưu vực sông, đặc biệt đối với những hệ thống liên tỉnh và các vùng thường xuyên xảy ra hạn hán, ngập úng hoặc xâm nhập mặn.

Cần xác định rõ:

  • Nguồn nước nào phục vụ khu vực nào;
  • Thứ tự ưu tiên phân bổ nước trong điều kiện thiếu nước;
  • Trách nhiệm cung cấp và chia sẻ dữ liệu;
  • Cơ quan chủ trì ra quyết định điều hòa, phân phối nước;
  • Cơ chế phối hợp vận hành giữa hồ thủy lợi, hồ thủy điện và hệ thống lấy nước;
  • Cơ chế xử lý xung đột giữa các ngành và địa phương;
  • Trách nhiệm giải trình khi quyết định vận hành gây ra thiệt hại hoặc không đạt mục tiêu.

Cùng với đó, cần nghiên cứu tổ chức lại các đơn vị khai thác công trình theo hướng có quy mô, năng lực và phạm vi quản lý phù hợp với các hệ thống thủy lợi liên vùng, liên tỉnh.

3. Ưu tiên bảo đảm an toàn, phục hồi và nâng cấp tài sản hiện có

Trong giai đoạn tới, cần chuyển một phần trọng tâm từ xây dựng mới sang bảo đảm an toàn và nâng cao hiệu quả của hệ thống hiện có.

Cần xây dựng cơ sở dữ liệu tài sản thủy lợi quốc gia. Mỗi công trình phải có đầy đủ những thông tin cơ bản:

  • Hồ sơ kỹ thuật được số hóa;
  • Lịch sử vận hành và sửa chữa;
  • Tình trạng kỹ thuật hiện tại;
  • Mức độ quan trọng của công trình;
  • Mức độ rủi ro đối với dân cư và vùng hạ du;
  • Nhu cầu bảo trì, sửa chữa và nâng cấp;
  • Hệ thống thiết bị quan trắc;
  • Phương án bảo vệ và ứng phó sự cố;
  • Nguồn kinh phí và đơn vị chịu trách nhiệm.

Nguồn lực bảo trì phải được phân bổ theo mức độ rủi ro, tầm quan trọng và hiệu quả phục vụ của công trình, thay cho cách phân bổ bình quân hoặc chỉ xử lý khi công trình đã hư hỏng nghiêm trọng.

Đối với đập và hồ chứa, cần chuyển dần từ bảo trì theo định kỳ sang bảo trì dự báo, trong đó sử dụng dữ liệu quan trắc để phát hiện sớm hiện tượng biến dạng, thấm, nứt và các dấu hiệu bất thường khác.

4. Phát triển thủy lợi đa mục tiêu và thích ứng theo từng vùng

Không thể áp dụng một mô hình thủy lợi giống nhau cho tất cả các vùng.

Đối với đồng bằng sông Cửu Long, cần quản lý linh hoạt các vùng sinh thái ngọt, lợ và mặn; tôn trọng quy luật tự nhiên; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm sinh kế bền vững. Định hướng này phù hợp với Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. [12]

Đối với đồng bằng sông Hồng, cần hiện đại hóa hệ thống lấy nước, tưới, tiêu và phòng, chống ngập trong điều kiện lòng dẫn, mực nước sông và không gian đô thị thay đổi nhanh.

Đối với miền Trung, cần ưu tiên an toàn hồ đập, dự báo lũ nhanh, vận hành liên hồ chứa và bảo đảm cấp nước trong mùa khô.

Đối với Tây Nguyên, cần tăng khả năng trữ nước phân tán, bảo vệ rừng đầu nguồn, sử dụng nước tiết kiệm và kiểm soát khai thác nước dưới đất.

Đối với Đông Nam Bộ và các vùng đô thị, công nghiệp, cần tích hợp thủy lợi với cấp nước, thoát nước, chống ngập, xử lý nước thải và phục hồi hệ sinh thái sông.

Mỗi công trình hoặc hệ thống thủy lợi phải được đánh giá đồng thời về cấp nước, phòng lũ, môi trường, năng lượng, sinh kế và phát triển không gian.

5. Đưa hiệu quả sử dụng nước trở thành chỉ tiêu bắt buộc

Trong điều kiện nguồn nước ngày càng khan hiếm, ngành Thủy lợi phải chuyển từ việc chủ yếu mở rộng nguồn cung sang quản lý đồng thời cả nguồn cung và nhu cầu sử dụng nước.

Cần mở rộng đo đếm nước, áp dụng tưới tiên tiến, tưới tiết kiệm; hiện đại hóa kênh dẫn và công trình điều tiết; đồng thời gắn kế hoạch cấp nước với dự báo khí tượng, thủy văn và lịch thời vụ.

Giá trị của một hệ thống thủy lợi không nên chỉ được đánh giá bằng diện tích nằm trong phạm vi phục vụ theo thiết kế. Việc đánh giá phải dựa trên:

  • Lượng nước thực tế được cung cấp;
  • Mức độ ổn định và tin cậy của dịch vụ;
  • Hiệu quả kinh tế – xã hội;
  • Mức độ tiết kiệm nước và năng lượng;
  • Khả năng duy trì chất lượng môi trường;
  • Mức độ an toàn trước thiên tai;
  • Sự hài lòng của người sử dụng nước.

6. Xây dựng nền thủy lợi số và hệ thống hỗ trợ ra quyết định

Chuyển đổi số phải bắt đầu từ nhu cầu quản lý và quy trình ra quyết định, không bắt đầu từ việc mua sắm phần mềm hoặc thiết bị. [7][8]

Cần hình thành một nền tảng dữ liệu dùng chung, kết nối những nhóm thông tin chủ yếu:

  • Dữ liệu khí tượng, thủy văn và tài nguyên nước;
  • Dữ liệu hồ chứa, trạm bơm, cống và hệ thống kênh;
  • Nhu cầu nước của nông nghiệp, dân sinh, công nghiệp và môi trường;
  • Bản đồ hạn hán, ngập lụt và xâm nhập mặn;
  • Hiện trạng an toàn đập, hồ chứa;
  • Quy trình và nhật ký vận hành công trình;
  • Thông tin thiệt hại do thiên tai;
  • Phản hồi của người sử dụng nước.

Trên nền tảng đó, cần phát triển bản sao số của công trình và hệ thống thủy lợi, mô hình dự báo, mô hình mô phỏng và hệ thống hỗ trợ ra quyết định để thử nghiệm các phương án trước khi vận hành thực tế. [7][8]

Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ dự báo dòng chảy, nhận diện bất thường, tối ưu hóa lịch vận hành và cảnh báo rủi ro. Tuy nhiên, các quyết định liên quan đến an toàn công trình và tính mạng người dân phải được kiểm chứng bằng các mô hình vật lý, có quy trình trách nhiệm rõ ràng và chịu sự giám sát của chuyên gia.

7. Đổi mới khoa học và công nghệ theo các bài toán lớn

Nghiên cứu khoa học không nên dừng ở những đề tài phân tán hoặc kết thúc bằng báo cáo nghiệm thu. Cần tổ chức các chương trình khoa học theo những bài toán lớn, có người chịu trách nhiệm chính, có sản phẩm đầu ra cụ thể, có địa chỉ ứng dụng và có dữ liệu để kiểm chứng. [7][8]

Một số bài toán cần được ưu tiên gồm: [7][8]

  • Bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia;
  • Dự báo và điều hành hạn hán, lũ lụt và xâm nhập mặn;
  • Bảo đảm an toàn đập, hồ chứa trong điều kiện khí hậu cực đoan;
  • Vận hành liên hồ, liên hệ thống theo thời gian thực;
  • Quản lý nước thích ứng cho đồng bằng sông Cửu Long;
  • Tiêu thoát nước và phòng, chống ngập đô thị;
  • Tưới chính xác và nâng cao năng suất sử dụng nước;
  • Trữ nước phân tán và áp dụng giải pháp dựa vào tự nhiên;
  • Thu gom, xử lý, tái sử dụng nước và phát triển kinh tế tuần hoàn về nước;
  • Xây dựng mô hình số và hệ thống hỗ trợ ra quyết định cho các lưu vực sông.

Điểm mới cần hướng tới là chuyển từ “nghiên cứu những gì có thể làm” sang “tổ chức khoa học và công nghệ để giải quyết những vấn đề quốc gia bắt buộc phải làm”.

8. Hoàn thiện thể chế và phân định rõ trách nhiệm quản lý

Cần tiếp tục rà soát Luật Thủy lợi và các luật có liên quan để khắc phục khoảng trống giữa quản lý tài nguyên nước, thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường và đầu tư công. [9][13]

Cần phân định rõ ba nhóm trách nhiệm:

  • Thứ nhất, quản lý tài nguyên nước tập trung vào bảo vệ, điều tra, giám sát, điều hòa và phân phối nguồn nước theo lưu vực sông và nguồn nước.
  • Thứ hai, quản lý thủy lợi tập trung vào quy hoạch, đầu tư, quản lý, khai thác và bảo vệ công trình, cung cấp dịch vụ thủy lợi.
  • Thứ ba, phòng, chống thiên tai tập trung vào đánh giá rủi ro, cảnh báo, ứng phó, bảo vệ dân cư và khắc phục hậu quả.

Ba lĩnh vực này có phạm vi khác nhau nhưng phải được kết nối trong một hệ thống quản trị thống nhất.

Phân cấp, phân quyền phải đi cùng với tiêu chuẩn năng lực, nguồn lực thực hiện, cơ sở dữ liệu, công cụ kỹ thuật, cơ chế kiểm tra và trách nhiệm giải trình. [11]

9. Đổi mới cơ chế tài chính và mô hình cung cấp dịch vụ thủy lợi

Cơ chế tài chính cần tạo động lực cho đơn vị quản lý khai thác nâng cao chất lượng dịch vụ, tiết kiệm nước, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ công trình.

Nhà nước cần tiếp tục bảo đảm những dịch vụ thủy lợi thiết yếu, có tính công ích và phục vụ các khu vực khó khăn. Đồng thời, cần mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức dùng nước và cộng đồng trong đầu tư, quản lý, giám sát và sử dụng nước.

Việc đặt hàng và thanh toán dịch vụ thủy lợi cần dựa trên kết quả đầu ra, bao gồm:

  • Khối lượng nước được cung cấp;
  • Mức độ đáp ứng nhu cầu;
  • Chất lượng và độ tin cậy của dịch vụ;
  • Mức độ an toàn của công trình;
  • Hiệu quả sử dụng nước và năng lượng;
  • Mức độ hài lòng của người sử dụng.

Cần tiến tới quản lý đầy đủ vòng đời tài sản, từ quy hoạch, đầu tư, vận hành, bảo trì, nâng cấp cho đến thay thế hoặc loại bỏ công trình không còn phù hợp.

10. Phát triển đội ngũ nhân lực thủy lợi thế hệ mới

Ngành Thủy lợi trong tương lai cần đội ngũ cán bộ vừa hiểu công trình, vừa hiểu lưu vực sông, môi trường, kinh tế, dữ liệu và quản trị rủi ro.

Nhân lực thủy lợi thế hệ mới phải có khả năng:

  • Làm việc liên ngành và phối hợp giữa các cấp quản lý;
  • Sử dụng mô hình toán, dữ liệu lớn và hệ thống thông tin địa lý;
  • Vận hành hệ thống giám sát và điều hành số;
  • Phân tích bất định, đánh giá rủi ro và xây dựng kịch bản;
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của phương án;
  • Giao tiếp với cộng đồng và người sử dụng nước;
  • Giải trình các quyết định chuyên môn;
  • Hợp tác quốc tế về nguồn nước xuyên biên giới.

Bên cạnh đào tạo nhân lực trẻ, cần tổ chức lưu giữ và chuyển giao tri thức của các chuyên gia giàu kinh nghiệm.

Kinh nghiệm thực địa của nhiều thế hệ cán bộ thủy lợi là tài sản rất quý. Nếu không được tổng kết, số hóa và truyền lại một cách có hệ thống, ngành sẽ mất đi một nguồn tri thức không dễ tái tạo.

11. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng và người sử dụng nước

Người dân không chỉ là đối tượng hưởng lợi mà phải trở thành chủ thể tham gia quản trị nước.

Cần công khai thông tin về nguồn nước, kế hoạch cấp nước, lịch vận hành, nguy cơ thiếu nước, xả lũ và tình trạng an toàn công trình. Người sử dụng nước cần có cơ chế tham gia lập kế hoạch, giám sát chất lượng dịch vụ và phản ánh các bất cập trong quá trình vận hành. [9][13]

Sự tham gia của cộng đồng sẽ giúp:

  • Nâng cao tính minh bạch;
  • Giảm xung đột trong phân phối nước;
  • Tăng trách nhiệm bảo vệ công trình;
  • Khuyến khích sử dụng nước tiết kiệm;
  • Phát hiện sớm các sự cố và vi phạm;
  • Nâng cao khả năng ứng phó thiên tai tại chỗ.

12. Tăng cường hợp tác quốc tế và quản trị nguồn nước xuyên biên giới

Đối với các lưu vực sông quốc tế, Việt Nam cần chủ động thúc đẩy hợp tác, chia sẻ dữ liệu, nghiên cứu chung và xây dựng các cơ chế tham vấn.

Cùng với ngoại giao về nguồn nước, ngành Thủy lợi phải nâng cao năng lực kỹ thuật trong việc:

  • Theo dõi hoạt động phát triển ở thượng nguồn;
  • Dự báo tác động đến dòng chảy, phù sa và xâm nhập mặn;
  • Xây dựng các kịch bản ứng phó;
  • Điều chỉnh quy hoạch và phương thức vận hành công trình;
  • Tăng khả năng tự chủ về nguồn nước ở những vùng có nguy cơ cao.

Hợp tác quốc tế cũng cần hướng tới tiếp nhận có chọn lọc công nghệ mới, phát triển năng lực nghiên cứu trong nước và đưa các chuyên gia Việt Nam tham gia sâu hơn vào những chương trình quốc tế về nước và biến đổi khí hậu.

V. NHỮNG NHIỆM VỤ CẦN ƯU TIÊN THỰC HIỆN

Để các định hướng nêu trên không dừng lại ở khẩu hiệu, trong giai đoạn trước mắt cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ ưu tiên.

1. Rà soát toàn diện hệ thống chiến lược, quy hoạch và pháp luật

Cần đánh giá lại mức độ phù hợp của các chiến lược, quy hoạch và quy trình vận hành trong điều kiện tổ chức bộ máy, khí hậu, nguồn nước và nhu cầu phát triển đã thay đổi. [7]

Việc rà soát phải chỉ rõ:

  • Nội dung nào còn phù hợp;
  • Nội dung nào không còn phù hợp;
  • Những khoảng trống pháp lý cần bổ sung;
  • Những nhiệm vụ đang chồng chéo;
  • Những công trình không còn đáp ứng yêu cầu;
  • Những vùng đang thiếu năng lực cấp nước hoặc tiêu thoát nước;
  • Những quyết định cần được điều chỉnh ngay.

2. Hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về công trình và dịch vụ thủy lợi

Cần thống nhất tiêu chuẩn dữ liệu, mã định danh công trình, quy chế cập nhật, chia sẻ và khai thác dữ liệu.

Dữ liệu phải phục vụ trực tiếp cho quản lý, vận hành, bảo trì, cảnh báo và đầu tư, không chỉ phục vụ thống kê hoặc báo cáo định kỳ.

3. Phân loại công trình theo mức độ rủi ro và nhu cầu đầu tư

Mỗi công trình cần được đánh giá theo ba nhóm tiêu chí:

  • Tình trạng kỹ thuật;
  • Vai trò và hiệu quả phục vụ;
  • Mức độ rủi ro đối với người dân, kinh tế và môi trường.

Trên cơ sở đó, xác định rõ công trình cần sửa chữa khẩn cấp, công trình cần hiện đại hóa, công trình có thể tiếp tục khai thác và công trình không còn phù hợp cần chuyển đổi hoặc loại bỏ.

4. Xây dựng các hệ thống hỗ trợ ra quyết định thí điểm

Trước mắt, nên lựa chọn một số lưu vực hoặc hệ thống thủy lợi quan trọng để xây dựng mô hình quản lý số hoàn chỉnh, kết nối từ quan trắc đến hỗ trợ vận hành.

Mỗi mô hình thí điểm phải giải quyết được một bài toán quản lý cụ thể, có chỉ tiêu đánh giá và có khả năng nhân rộng.

5. Thiết lập bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ngành Thủy lợi

Bộ chỉ tiêu không nên chỉ tập trung vào số công trình hoặc diện tích tưới theo thiết kế, mà phải phản ánh:

  • An ninh nguồn nước;
  • Hiệu quả sử dụng nước;
  • Chất lượng dịch vụ;
  • An toàn công trình;
  • Khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu;
  • Hiệu quả kinh tế – xã hội;
  • Mức độ bảo vệ môi trường;
  • Chất lượng dữ liệu và năng lực quản trị.

6. Củng cố năng lực của cấp địa phương và cơ sở

Việc phân cấp phải gắn với chương trình đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật, cung cấp dữ liệu, phần mềm và nguồn lực tài chính. [11]

Đặc biệt, cần làm rõ trách nhiệm của cấp tỉnh và cấp xã trong quản lý công trình, bảo vệ hành lang, theo dõi an toàn, xử lý vi phạm, phòng, chống thiên tai và báo cáo sự cố.

VI. THAY LỜI KẾT: TỪ “DẪN THỦY NHẬP ĐIỀN” ĐẾN KIẾN TẠO AN NINH NGUỒN NƯỚC QUỐC GIA

Trong 81 năm qua, ngành Thủy lợi Việt Nam đã hoàn thành một sứ mệnh lịch sử rất lớn: trị thủy, khai phá đất đai, bảo vệ sản xuất, góp phần đẩy lùi đói nghèo và tạo nền tảng cho phát triển đất nước.

Những thành tựu đó là kết quả của tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước, sự đóng góp của nhân dân và công sức bền bỉ của nhiều thế hệ cán bộ, nhà khoa học, kỹ sư, công nhân và người lao động trong toàn ngành.

Tuy nhiên, những thành tựu của giai đoạn trước không tự động bảo đảm thành công trong giai đoạn tới.

Nếu thế kỷ XX đặt ra yêu cầu xây dựng công trình để trị thủy, khai thác và sử dụng nước thì thế kỷ XXI đòi hỏi một năng lực cao hơn: quản trị nước một cách thông minh, công bằng, an toàn, tiết kiệm và hài hòa với tự nhiên.

Để đáp ứng yêu cầu đó, ngành Thủy lợi Việt Nam cần thực hiện sáu chuyển đổi căn bản:

  • Thứ nhất, chuyển từ quản lý từng công trình riêng lẻ sang quản lý đồng bộ hệ thống công trình và nguồn nước theo lưu vực sông.
  • Thứ hai, chuyển từ việc chủ yếu mở rộng khả năng cung cấp nước sang quản lý đồng thời cả nguồn cung và nhu cầu sử dụng nước.
  • Thứ ba, chuyển từ mục tiêu chủ yếu phục vụ sản xuất lúa sang cung cấp dịch vụ nước cho nền nông nghiệp đa giá trị, dân sinh, công nghiệp, đô thị, môi trường và các ngành kinh tế khác.
  • Thứ tư, chuyển từ ứng phó bị động với hạn hán, lũ lụt, ngập úng và xâm nhập mặn sang dự báo sớm, phòng ngừa chủ động và quản trị rủi ro.
  • Thứ năm, chuyển từ dữ liệu phân tán theo từng đơn vị, địa phương và dự án sang nền tảng dữ liệu dùng chung, được chuẩn hóa, cập nhật và kết nối theo thời gian thực.
  • Thứ sáu, chuyển từ quản lý, khai thác công trình thủy lợi sang quản trị tổng hợp nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia.

Kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống ngành Thủy lợi Việt Nam không chỉ là dịp ôn lại lịch sử và tri ân những thế hệ đi trước. Đây còn là thời điểm để toàn ngành xác lập một khát vọng phát triển mới:

  • Xây dựng ngành Thủy lợi Việt Nam hiện đại, thông minh, đa mục tiêu, an toàn và thích ứng; đủ năng lực bảo đảm an ninh nguồn nước, bảo vệ nhân dân và tạo nền tảng cho đất nước phát triển nhanh, xanh và bền vững.

Đó chính là cách thiết thực nhất để tiếp nối truyền thống 81 năm của một ngành luôn gắn vận mệnh của mình với những dòng sông, những cánh đồng và cuộc sống của nhân dân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Trường Đại học Thủy lợi (14/8/2023), “Ngày 28/8 – Ngày truyền thống của ngành Thủy lợi Việt Nam”. Nguồn https://tlu.edu.vn/ngay-28-8-ngay-truyen-thong-cua-nganh-thuy-loi-viet-nam-36549/

[2] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1135/QĐ-TTg ngày 21/8/2008 về Ngày truyền thống ngành Thủy lợi Việt Nam. Nguồn https://chinhphu.vn/default.aspx?docid=87481&pageid=27160

[3] Bộ Nông nghiệp và Môi trường (23/8/2025), “80 năm ngành Thủy lợi Việt Nam: Trụ cột phát triển bền vững”; số liệu quy mô công trình được công bố tại Lễ kỷ niệm 80 năm của ngành. Nguồn https://mae.gov.vn/80-nam-nganh-thuy-loi-viet-nam-tru-cot-phat-trien-ben-vung-19287.htm

[4] Báo Điện tử Chính phủ (24/3/2025), “Quy hoạch thủy lợi giải quyết mục tiêu cấp bách, đáp ứng tầm nhìn dài hạn, tránh chắp vá, lãng phí”. Bài viết dẫn số liệu trong hồ sơ phục vụ lập quy hoạch lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình và lưu vực sông Cửu Long tại thời điểm tháng 3/2025; Viện Quy hoạch Thủy lợi và Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam là các đơn vị tư vấn. Nguồn https://baochinhphu.vn/quy-hoach-thuy-loi-giai-quyet-muc-tieu-cap-bach-dap-ung-tam-nhin-dai-han-tranh-chap-va-lang-phi-102250324215517482.htm

[5] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 33/QĐ-TTg ngày 7/1/2020 phê duyệt Chiến lược Thủy lợi Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nguồn  https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?docid=198815&pageid=27160

[6] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 847/QĐ-TTg ngày 14/7/2023 phê duyệt Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Nguồn https://vanban.chinhphu.vn/?docid=208276&pageid=27160

[7] Bộ Nông nghiệp và Môi trường (26/12/2025), “Ngành Thủy lợi tập trung vào 3 đột phá cho năm 2026”. Nguồn https://vanban.chinhphu.vn/?docid=208276&pageid=27160

[8] Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (26/2/2026), “Nâng tầm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo lĩnh vực Thủy lợi, Đê điều – PCTT và Tài nguyên nước giai đoạn 2026–2030”. Nguồn https://dwrm.mae.gov.vn/nang-tam-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-linh-vuc-thuy-loi-de-dieupctt-va-tai-nguyen-nuoc-giai-doan-2026–2030-16287.htm

[9] Quốc hội, Luật Tài nguyên nước số 28/2023/QH15 ngày 27/11/2023, có hiệu lực từ ngày 1/7/2024. Nguồn https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=209626&orggroupid=1&pageid=27160

[10] Chính phủ, Nghị định số 35/2025/NĐ-CP ngày 25/2/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Nguồn https://vanban.chinhphu.vn/?docid=212980&pageid=27160

[11] Chính phủ, Nghị định số 131/2025/NĐ-CP và Nghị định số 136/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 về phân định thẩm quyền, phân quyền và phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Nguồn https://vanban.chinhphu.vn/?docid=213934&pageid=27160

[12] Chính phủ, Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Nguồn https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?docid=192249&pageid=27160

[13] Quốc hội, Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 ngày 19/6/2017, có hiệu lực từ ngày 1/7/2018. Nguồn https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?docid=190309&pageid=27160

[14] Bộ Nông nghiệp và Môi trường (20/10/2025), “Quy hoạch thủy lợi cho 4 triệu ha lưu vực sông Cửu Long”; thông tin về mục tiêu đến năm 2030 của Quy hoạch được phê duyệt tại Quyết định số 2307/QĐ-TTg. Nguồn https://mae.gov.vn/quy-hoach-thuy-loi-cho-4-trieu-ha-luu-vuc-song-cuu-long-20064.htm

[15] Bộ Nông nghiệp và Môi trường (19/12/2025), “Khánh thành hồ Bản Mồng – Dấu mốc thủy lợi chiến lược cho Bắc Trung Bộ”. Nguồn https://mae.gov.vn/e-magazine/khanh-thanh-ho-ban-mong–dau-moc-thuy-loi-chien-luoc-cho-bac-trung-bo-20611.htm

[16] Báo Điện tử Chính phủ (14/4/2026), “Huế: Kiểm soát nguồn nước từ sớm, từ xa để ứng phó với khô hạn”; số liệu và phương án vận hành ba hồ Tả Trạch, Bình Điền, Hương Điền trong mùa khô năm 2026. Nguồn https://baochinhphu.vn/hue-kiem-soat-nguon-nuoc-tu-som-tu-xa-de-ung-pho-voi-kho-han-102260414102719313.htm

[17] Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (21/1/2026), “Công bố Kịch bản nguồn nước lưu vực sông Đồng Nai mùa cạn 2026: Chủ động điều tiết, bảo đảm an ninh nước vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”. Nguồn https://dwrm.mae.gov.vn/tai-nguyen-nuoc/cong-bo-kich-ban-nguon-nuoc-luu-vuc-song-dong-nai-mua-can-2026-chu-dong-dieu-tiet-bao-dam-an-ninh-nuoc-vung-kinh-te-trong-diem-phia-nam-16237.htm

[18] Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (22/5/2026), “Nguồn nước lưu vực sông Đồng Nai cơ bản ổn định, tiếp tục cảnh giác nguy cơ hạn hán do El Niño”. Nguồn https://dwrm.mae.gov.vn/kich-ban-nguon-nuoc-tren-cac-luu-vuc-song/nguon-nuoc-luu-vuc-song-dong-nai-co-ban-on-dinh-tiep-tuc-canh-giac-nguy-co-han-han-do-el-nino-16508.htm

[19] Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (30/10/2024), “Tây Ninh đảm bảo công trình đê điều, thủy lợi trong mùa mưa bão”. Nguồn https://dwrm.mae.gov.vn/SMPT_Publishing_UC/KhaiThac/TinTuc/pInTinTuc.aspx?ItemID=14446&UrlList&utm_source=chatgpt.com


[1] Bài viết chỉ nhằm mục đích chia sẻ góc nhìn cá nhân nhân ngày kỹ niệm, không đại diện cho bất kỳ tập thể nào.