Đỗ Đức Dũng ngày 18 tháng 5 năm 2026
Để hiểu thêm về Danh mục nguồn nước dưới đất, tôi tìm hiểu và biên soạn tài liệu này để tự học, chia sẻ cùng anh em đồng nghiệp và bạn bè để làm vui. Tài liệu này được hình thành trên cơ sở tham khảo tài liệu trên mạng nên rất mong nhận được chia sẻ để hiểu thêm.
Tôi hình dung Danh mục nguồn nước dưới đất giống như một “sổ đăng ký quốc gia” về các tầng chứa nước. Nó không liệt kê từng giếng khoan, từng hộ khai thác, mà liệt kê các hệ tầng chứa nước chính: tên tầng, ký hiệu, mã, dạng tồn tại, diện tích phân bố, chiều sâu phân bố và phạm vi theo lưu vực sông, vùng kinh tế – xã hội, tỉnh/thành.
1. Nước dưới đất và “nguồn nước dưới đất” là gì?
Theo Luật Tài nguyên nước 2023, nước dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất ở đất liền, hải đảo và dưới đáy biển. Còn nguồn nước bao gồm các dạng tích tụ nước tự nhiên, trong đó có các tầng chứa nước dưới đất.
Nói dễ hiểu hơn: dưới mặt đất không phải là một “hồ nước ngầm” liên tục, mà là các lớp đất đá có khả năng chứa và truyền nước. Ví dụ:
- Tầng cát, sỏi Đệ tứ chứa nước tốt → thường gọi là tầng chứa nước lỗ hổng.
- Đá nứt nẻ chứa nước trong khe nứt → tầng chứa nước khe nứt.
- Đá vôi bị hòa tan tạo hang, hốc → tầng chứa nước karst.
- Bazan vừa có lỗ rỗng vừa có khe nứt → tầng chứa nước khe nứt – lỗ hổng.
Vì vậy, khi quản lý nước dưới đất, đơn vị quản lý đúng nhất không phải là “giếng”, mà là tầng chứa nước.
2. Ý nghĩa của Danh mục nguồn nước dưới đất
Về pháp lý, Luật Tài nguyên nước 2023 quy định danh mục nguồn nước là căn cứ để thực hiện quản lý, điều tra cơ bản, quy hoạch, bảo vệ, điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Trong danh mục nguồn nước có Danh mục nguồn nước dưới đất.
Về chuyên môn, danh mục này có 5 ý nghĩa rất quan trọng:
Thứ nhất, chuẩn hóa tên gọi các tầng chứa nước. Trước đây cùng một tầng có thể được gọi khác nhau trong các báo cáo địa phương. Danh mục giúp thống nhất cách gọi như qh, qp, n₂, n₁, βqp, t₂, c-p, d… để các cơ quan, nhà tư vấn, đơn vị cấp phép và địa phương hiểu cùng một ngôn ngữ.
Thứ hai, xác định “đối tượng quản lý” của nước dưới đất. Khi nói cấp phép khai thác, bảo vệ, quan trắc hay đánh giá suy thoái, phải nói rõ tác động đến tầng chứa nước nào, không nói chung chung là “nước ngầm”.
Thứ ba, làm nền cho quy hoạch và cấp phép. Khi cấp phép thăm dò, khai thác nước dưới đất, pháp luật yêu cầu căn cứ vào quy hoạch tài nguyên nước, khả năng đáp ứng của nguồn nước, hiện trạng khai thác và yêu cầu bảo vệ tài nguyên nước. Danh mục giúp xác định đúng tầng chứa nước để đánh giá khả năng khai thác, nguy cơ suy giảm, xâm nhập mặn, sụt lún.
Thứ tư, hỗ trợ lập kế hoạch bảo vệ nước dưới đất. Luật yêu cầu kế hoạch bảo vệ nước dưới đất phải xác định các khu vực, tầng chứa nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm cần bảo vệ, phục hồi; vùng cấm, vùng hạn chế khai thác; phương án khai thác; khu vực cần bổ sung nhân tạo.
Thứ năm, tạo cơ sở dữ liệu quốc gia. Danh mục này là một lớp thông tin nền để tích hợp với hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia, phục vụ quản trị tài nguyên nước trên nền tảng số.
3. Danh mục hiện hành gồm những gì?
Danh mục hiện hành được ban hành kèm theo Quyết định số 4355/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2024. Theo thông tin công bố của Cục Quản lý tài nguyên nước, danh mục nguồn nước dưới đất phần đất liền gồm 58 tầng chứa nước, được lập theo kết quả Biên hội – Thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc.
Cấu trúc chính gồm 4 phụ lục:
- Phụ lục I: Danh mục nguồn nước dưới đất phần đất liền trên toàn quốc. Phụ lục này nêu dạng tồn tại, tên tầng chứa nước, ký hiệu tầng chứa nước và mã tầng chứa nước.
- Phụ lục II: Danh mục nguồn nước dưới đất trên các lưu vực sông liên tỉnh, có mã nguồn nước, tên tầng chứa nước, ký hiệu, diện tích phân bố, chiều sâu phân bố, phạm vi theo tỉnh/thành phố.
- Phụ lục III: Danh mục theo các vùng kinh tế – xã hội.
- Phụ lục IV: Danh mục theo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chi tiết đến huyện/quận/thị xã tại thời điểm lập danh mục.
Về dạng tồn tại, danh mục chia các tầng chứa nước thành 4 nhóm lớn:
| Nhóm | Ý nghĩa dễ hiểu | Ví dụ |
| Nước lỗ hổng | Nước nằm trong lỗ rỗng của cát, sỏi, bột, sét pha | q, qh, qp, n₂, n₁ |
| Nước khe nứt – lỗ hổng | Nước tồn tại cả trong lỗ rỗng và khe nứt của đá | bazan, đá trầm tích lục nguyên Neogen |
| Nước khe nứt | Nước chủ yếu nằm trong hệ khe nứt của đá cứng | đá phun trào, trầm tích lục nguyên, biến chất |
| Nước karst | Nước trong hang, hốc, khe nứt hòa tan của đá carbonat | đá vôi Carbon – Pecmi, Devon, Ordovic – Silur |
Các nhóm này thể hiện rõ trong Phụ lục I: nước lỗ hổng, nước khe nứt – lỗ hổng, nước khe nứt và nước trong các thành tạo karst.
4. Danh mục được thành lập như thế nào?
Về bản chất, Danh mục không phải được “nghĩ ra” theo hành chính, mà được xây dựng từ địa chất thủy văn. Trình tự tư duy có thể hiểu theo 6 bước.
Bước 1: Thu thập nền tài liệu địa chất thủy văn. Cơ sở chính là kết quả điều tra, đánh giá và bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000. Thông tư 17/2013/TT-BTNMT quy định kỹ thuật lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000; bản đồ này được lập trên cơ sở bản đồ địa hình và bản đồ địa chất thủy văn cùng tỷ lệ hoặc tỷ lệ lớn hơn.
Bước 2: Xác định các tầng chứa nước. Các chuyên gia phân tích tài liệu địa chất, địa tầng, thạch học, lỗ khoan, tài liệu bơm hút nước thí nghiệm, mực nước, chất lượng nước, khả năng chứa nước và truyền nước để xác định lớp nào thực sự là tầng chứa nước.
Bước 3: Phân loại dạng tồn tại của nước. Một tầng chứa nước được xếp vào nhóm lỗ hổng, khe nứt, khe nứt – lỗ hổng hoặc karst tùy vào môi trường chứa nước. Đây là bước rất quan trọng vì mỗi loại tầng chứa nước có quy luật khai thác khác nhau. Tầng lỗ hổng thường phân bố ở đồng bằng, tầng khe nứt phụ thuộc mạnh vào đới nứt nẻ, còn tầng karst có thể cho lưu lượng rất lớn nhưng biến động phức tạp.
Bước 4: Chuẩn hóa tên, ký hiệu và mã. Ví dụ: tầng chứa nước Holocen ký hiệu qh; Pleistocen ký hiệu qp; Pliocen dưới ký hiệu n₂¹; bazan Pleistocen ký hiệu βqp. Phụ lục I cho thấy mỗi tầng có tên, ký hiệu và mã TCN riêng.
Bước 5: Khoanh định diện phân bố và chiều sâu. Sau khi nhận dạng tầng chứa nước, cơ quan lập danh mục xác định tầng đó phân bố ở đâu, diện tích bao nhiêu km², chiều sâu từ – đến bao nhiêu mét. Các phụ lục II, III, IV đều có cột diện tích phân bố, chiều sâu phân bố và phạm vi theo tỉnh/huyện.
Bước 6: Tổng hợp theo đơn vị quản lý. Cùng một tầng chứa nước có thể được nhìn theo nhiều góc độ: toàn quốc, lưu vực sông liên tỉnh, vùng kinh tế – xã hội, hoặc tỉnh/thành phố. Vì vậy, danh mục được tổ chức thành nhiều phụ lục để phục vụ các nhu cầu quản lý khác nhau.
Từ “biên hội” trong quyết định cần hiểu là quá trình tổng hợp, đối chiếu, chuẩn hóa và thành lập lại một bộ thông tin thống nhất từ nhiều nguồn tài liệu điều tra, bản đồ và dữ liệu địa chất thủy văn đã có.
5. Cách sử dụng Danh mục trong thực tế
5.1. Dùng cho quản lý nhà nước
Cơ quan quản lý dùng danh mục để trả lời các câu hỏi:
- Trên địa bàn tỉnh có những tầng chứa nước nào?
- Tầng nào nông, tầng nào sâu?
- Tầng nào đang bị khai thác mạnh?
- Tầng nào có nguy cơ suy giảm mực nước, xâm nhập mặn, ô nhiễm?
- Vùng nào cần cấm hoặc hạn chế khai thác nước dưới đất?
Ví dụ khi lập kế hoạch bảo vệ nước dưới đất cấp tỉnh, phải xác định tầng chứa nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; vùng cấm, vùng hạn chế khai thác; phương án khai thác và khu vực cần bổ sung nhân tạo nước dưới đất. Danh mục là lớp thông tin đầu vào để thực hiện việc đó.
5.2. Dùng cho cấp phép khai thác nước dưới đất
Trong hồ sơ thăm dò hoặc khai thác nước dưới đất, không nên ghi chung chung là “khai thác nước ngầm”. Phải ghi rõ:
- khai thác ở tầng chứa nước nào;
- ký hiệu tầng chứa nước;
- chiều sâu dự kiến đặt ống lọc;
- lưu lượng khai thác;
- hiện trạng khai thác xung quanh;
- khả năng đáp ứng và bảo vệ tầng chứa nước.
Luật quy định việc khai thác phải phù hợp với khả năng đáp ứng của nguồn nước, phương án điều hòa, phân phối tài nguyên nước, ngưỡng khai thác nước dưới đất và phải kê khai, đăng ký, cấp phép theo quy định.
5.3. Dùng cho quy hoạch và đánh giá nguồn nước
Khi lập quy hoạch tài nguyên nước, quy hoạch tỉnh, quy hoạch cấp nước, quy hoạch đô thị – công nghiệp, danh mục giúp xác định vùng nào có tiềm năng nước dưới đất, vùng nào cần hạn chế khai thác, vùng nào cần ưu tiên dùng nước mặt thay thế, vùng nào có thể nghiên cứu bổ sung nhân tạo nước dưới đất.
5.4. Dùng cho quan trắc, cảnh báo và mô hình hóa
Mạng quan trắc nước dưới đất cần bố trí theo tầng chứa nước. Nếu chỉ biết vị trí giếng mà không biết giếng quan trắc tầng qh, qp hay n₂ thì số liệu sẽ rất khó phân tích. Danh mục giúp chuẩn hóa dữ liệu quan trắc theo tầng chứa nước, từ đó đánh giá xu thế mực nước, chất lượng nước, xâm nhập mặn, sụt lún.
5.5. Dùng cho tư vấn kỹ thuật và dự án khai thác
Đối với đơn vị tư vấn, danh mục là tài liệu tra cứu ban đầu để biết khu vực dự án có những tầng chứa nước nào, chiều sâu dự kiến ra sao, có thể khai thác tầng nông hay phải xuống tầng sâu. Tuy nhiên, do danh mục được lập trên nền tỷ lệ 1:200.000, nó không thay thế điều tra chi tiết tại vị trí công trình. Thiết kế giếng vẫn cần khoan khảo sát, mô tả địa tầng, đo địa vật lý giếng khoan nếu cần, bơm thí nghiệm và phân tích chất lượng nước.
6. Cách tra cứu nhanh một địa điểm cụ thể
Quy trình thực tế nên làm như sau:
- Xác định vị trí hành chính và tọa độ công trình.
- Tra Phụ lục IV để xem tỉnh/thành đó có những tầng chứa nước nào, phân bố ở huyện/quận/thị xã nào, chiều sâu từ – đến bao nhiêu mét.
- Đối chiếu với Phụ lục I để lấy tên chuẩn, ký hiệu và mã tầng chứa nước.
- Nếu dự án liên quan đến lưu vực sông, tra thêm Phụ lục II để xem tầng chứa nước đó thuộc lưu vực nào.
- Nếu dùng cho quy hoạch vùng, tra Phụ lục III theo vùng kinh tế – xã hội.
- Khi lập hồ sơ kỹ thuật, ghi đúng tên tầng chứa nước, ký hiệu, chiều sâu, phạm vi phân bố; đồng thời bổ sung số liệu điều tra tại chỗ.
Một ghi chú quan trọng: trong phụ lục, các chữ viết tắt như KXĐ là “không xác định”, HC là “hành chính”, TCN là “tầng chứa nước”.
7. Những điểm cần lưu ý khi dùng Danh mục
Thứ nhất, đây là tài liệu quản lý và quy hoạch ở tầm quốc gia/tỉnh/lưu vực, không phải bản thiết kế giếng khoan chi tiết.
Thứ hai, chiều sâu trong danh mục là khoảng phân bố tổng quát. Tại một vị trí cụ thể, chiều sâu gặp tầng chứa nước có thể khác do địa hình, cấu trúc địa chất, đứt gãy, biến đổi trầm tích.
Thứ ba, danh mục có cơ chế cập nhật. Quyết định 4355/QĐ-BTNMT nêu rõ: nếu tổ chức, cá nhân điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất phát hiện tầng chứa nước ngoài danh mục thì gửi kết quả về Sở Tài nguyên và Môi trường nơi thực hiện để tổng hợp, gửi Bộ xem xét cập nhật.
Thứ tư, khi áp dụng sau khi có thay đổi địa giới hành chính, cần đối chiếu tên tỉnh/huyện trong phụ lục với đơn vị hành chính hiện hành. Bản danh mục được ban hành ngày 31/12/2024 nên phần phụ lục hành chính phản ánh hệ thống đơn vị tại thời điểm lập và ban hành.
8. Kết luận ngắn gọn
Danh mục nguồn nước dưới đất của Việt Nam là khung chuẩn để nhận diện, gọi tên, mã hóa và quản lý các tầng chứa nước. Nó giúp chuyển cách quản lý từ “quản lý từng giếng riêng lẻ” sang “quản lý theo tầng chứa nước, theo lưu vực, theo vùng và theo địa phương”. Đây là nền tảng rất quan trọng cho cấp phép khai thác, bảo vệ nước dưới đất, quy hoạch cấp nước, kiểm soát suy giảm mực nước, xâm nhập mặn, sụt lún và xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia.
Tài liệu tham khảo chính
- Quyết định 4355/QĐ-BTNMT về Danh mục nguồn nước dưới đất, bản PDF trên Cục Quản lý tài nguyên nước.
- Thông tin công bố của Cục Quản lý tài nguyên nước về Quyết định 4355/QĐ-BTNMT.
- Luật Tài nguyên nước 2023, số 28/2023/QH15 trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
- Thông tư 17/2013/TT-BTNMT về kỹ thuật lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000.
- Nghị định 53/2024/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước.

