Đỗ Đức Dũng 16/05/2026
Nông nghiệp, thủy lợi và môi trường tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh mới sau sáp nhập địa giới hành chính
Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, Bắc Ninh là một trong những địa phương có thay đổi rất lớn về không gian phát triển. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh cũ được sắp xếp thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Bắc Ninh. Sau sắp xếp, Bắc Ninh có diện tích tự nhiên 4.718,60 km², dân số 3.619.433 người, giáp các tỉnh Hưng Yên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, TP. Hải Phòng và TP. Hà Nội.
Sau sắp xếp cấp xã, Bắc Ninh có 99 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 66 xã và 33 phường; trong đó có 65 xã, 33 phường hình thành sau sắp xếp và 1 xã không thực hiện sắp xếp là xã Tuấn Đạo. Đây là thay đổi rất quan trọng, vì Bắc Ninh mới không còn là một tỉnh nhỏ, thiên về công nghiệp – đô thị như Bắc Ninh cũ, mà trở thành một không gian rộng hơn, kết hợp giữa vùng công nghiệp điện tử – đô thị – làng nghề – vùng cây ăn quả – vùng rừng, hồ chứa và trung du phía Bắc.
Điểm đặc biệt nhất của Bắc Ninh mới là sự kết hợp giữa hai vùng có tính bổ sung rất rõ. Bắc Ninh cũ có lợi thế về công nghiệp, khu công nghiệp, làng nghề, đô thị hóa, vị trí gần Hà Nội, hệ thống sông Đuống – sông Cầu và truyền thống văn hóa Kinh Bắc. Bắc Giang cũ bổ sung không gian trung du – miền núi, vùng vải thiều Lục Ngạn, cây ăn quả, rừng, hồ chứa, sông Thương, sông Lục Nam, sông Cầu và các vùng nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Sau sáp nhập, Bắc Ninh mới trở thành một tỉnh có cấu trúc phát triển rất đặc biệt: công nghiệp mạnh ở phía Tây Nam, nông nghiệp – rừng – hồ chứa ở phía Bắc và Đông Bắc, cùng hệ thống sông ngòi – thủy lợi gắn với lưu vực sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống và sông Thái Bình.
Một không gian phát triển mới: từ công nghiệp Kinh Bắc đến vùng nông nghiệp trung du
Trước đây, khi nói đến Bắc Ninh, nhiều người thường nghĩ đến một tỉnh công nghiệp phát triển nhanh, nhiều khu công nghiệp, làng nghề, đô thị hóa mạnh và mật độ dân cư cao. Khi nói đến Bắc Giang, người ta thường nghĩ đến vải thiều, cây ăn quả, đồi rừng, hồ Cấm Sơn, hồ Khuôn Thần, vùng trung du và các trục sông Thương – sông Lục Nam – sông Cầu.
Sau sáp nhập, hai không gian này hợp lại tạo thành một tỉnh vừa có động lực công nghiệp rất mạnh, vừa có nền nông nghiệp hàng hóa quan trọng, vừa có không gian sinh thái rừng – hồ – sông. Điều này làm thay đổi cách nhìn về Bắc Ninh. Tỉnh mới không chỉ là trung tâm công nghiệp điện tử và đô thị vệ tinh của vùng Thủ đô, mà còn là một địa phương có vai trò đáng kể về nông nghiệp, thủy lợi, bảo vệ nguồn nước, phòng chống ngập úng và bảo vệ môi trường làng nghề – công nghiệp.
Cơ hội lớn của Bắc Ninh mới là có thể hình thành chuỗi giá trị khá hoàn chỉnh: vùng nguyên liệu nông sản ở khu vực Bắc Giang cũ, hệ thống chế biến – logistics – thương mại ở vùng đô thị và công nghiệp, kết nối nhanh với Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và các hành lang xuất khẩu. Nhưng thách thức cũng rất rõ: phát triển công nghiệp và đô thị nhanh sẽ làm tăng áp lực lên đất nông nghiệp, nước mặt, kênh mương, môi trường làng nghề, chất thải công nghiệp và hệ thống tiêu thoát nước.
Nông nghiệp Bắc Ninh: nhỏ hơn công nghiệp nhưng có giá trị đặc sản rất lớn
Trong cơ cấu kinh tế của Bắc Ninh mới, nông nghiệp không phải là khu vực chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tuy nhiên, sau khi hợp nhất với Bắc Giang cũ, nông nghiệp của tỉnh có quy mô và ý nghĩa lớn hơn nhiều so với Bắc Ninh cũ trước đây. Đây là nền tảng sinh kế của khu vực nông thôn, là không gian xanh quan trọng, đồng thời là nguồn cung nông sản hàng hóa có thương hiệu cho vùng Thủ đô và xuất khẩu.
Năm 2025, lĩnh vực nông nghiệp của Bắc Ninh đạt nhiều chỉ tiêu quan trọng. Diện tích lúa đạt khoảng 151.220 ha, năng suất ước đạt 59 tạ/ha, sản lượng lúa ước đạt khoảng 891.900 tấn. Sản lượng thịt hơi dự kiến đạt 382,7 nghìn tấn; sản lượng cá thương phẩm đạt 99.700 tấn. Những con số này cho thấy nông nghiệp Bắc Ninh mới vẫn có quy mô đáng kể, nhất là khi xét đến vai trò của lúa, chăn nuôi, thủy sản nội đồng và cây ăn quả.
Nổi bật nhất là cây vải thiều. Sau sáp nhập, thương hiệu vải thiều Bắc Giang cũ trở thành một phần rất quan trọng của Bắc Ninh mới. Năm 2025, sản lượng vải thiều của tỉnh đạt hơn 205 nghìn tấn, mức cao nhất từ trước đến nay. Sang năm 2026, toàn tỉnh có khoảng 29.800 ha vải thiều, sản lượng ước khoảng 95.068 tấn theo đánh giá đến tháng 4/2026; trong đó diện tích vải sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP đạt 17.500 ha, chiếm khoảng 58,7%, còn diện tích GlobalG.A.P duy trì khoảng 255 ha.
Điều này cho thấy nông nghiệp Bắc Ninh mới có một lợi thế rất rõ: không chỉ có sản lượng, mà có sản phẩm đặc sản, thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng xuất khẩu. Vải thiều, rau màu, cây ăn quả, chăn nuôi, thủy sản nội đồng, gỗ rừng trồng và các sản phẩm OCOP có thể tạo thành một hệ sinh thái nông nghiệp hàng hóa nếu được tổ chức tốt.
Tuy nhiên, nông nghiệp Bắc Ninh cũng có nhiều thách thức. Thứ nhất, đất nông nghiệp chịu sức ép rất lớn từ công nghiệp, đô thị hóa, hạ tầng giao thông và khu dân cư. Thứ hai, cây ăn quả có giá trị cao nhưng rất nhạy cảm với thời tiết, sâu bệnh, thị trường và tiêu chuẩn xuất khẩu. Thứ ba, chăn nuôi quy mô lớn nếu không kiểm soát tốt chất thải sẽ gây áp lực lên môi trường nông thôn và kênh mương. Thứ tư, nông nghiệp ở một tỉnh công nghiệp hóa nhanh không thể phát triển theo kiểu phân tán, nhỏ lẻ như trước.
Vì vậy, hướng đi phù hợp của nông nghiệp Bắc Ninh là nông nghiệp chất lượng cao, nông nghiệp an toàn, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao và chế biến sâu. Với lợi thế gần Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và hệ thống khu công nghiệp lớn, Bắc Ninh có điều kiện rất tốt để phát triển chuỗi lạnh, logistics nông sản, thương mại điện tử, chế biến sau thu hoạch và xuất khẩu nông sản đặc sản.
Thủy lợi và tài nguyên nước: từ phục vụ nông nghiệp sang bảo vệ đô thị, công nghiệp và dân sinh
Thủy lợi là một lĩnh vực rất quan trọng của Bắc Ninh mới. Nếu trước đây, hệ thống thủy lợi chủ yếu được thiết kế để tưới tiêu nông nghiệp, thì hiện nay nhiệm vụ đã rộng hơn rất nhiều: vừa tưới cho sản xuất, vừa tiêu úng cho đô thị, khu công nghiệp, dân cư, làng nghề, giao thông và các vùng trũng.
Theo thống kê ngành nông nghiệp và môi trường, Bắc Ninh hiện có 274 hồ chứa nước, 203 đập dâng, khoảng 12.282 km kênh mương và hơn 1.400 trạm bơm, trong đó có 53 trạm bơm công suất lớn. Phần lớn các trạm bơm được xây dựng từ lâu, nhiều công trình đã xuống cấp, công nghệ lạc hậu, trong khi nhiệm vụ tiêu thoát nước ngày càng nặng do đô thị hóa và công nghiệp hóa.
Bắc Ninh mới nằm trong vùng có nhiều sông quan trọng như sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống và hệ thống sông Thái Bình. Đây là nguồn nước cho nông nghiệp, dân sinh, công nghiệp, giao thông thủy và môi trường, nhưng cũng là không gian có rủi ro lũ, úng, sạt lở bờ sông và ô nhiễm nước.
Một vấn đề nổi bật hiện nay là năng lực tiêu thoát nước chưa theo kịp tốc độ phát triển đô thị – công nghiệp. Nhiều hệ thống thủy lợi hiện chỉ đạt khoảng 60–70% công suất thiết kế, cá biệt có nơi giảm còn khoảng 50%, làm kéo dài thời gian tiêu úng và ảnh hưởng đến sản xuất, dân sinh, khu công nghiệp. Trong mùa mưa lũ năm 2025, nhiều trạm bơm trọng yếu bị sự cố hoặc ngập một phần, thậm chí có nơi không thể bơm tiêu úng.
Chính vì vậy, Bắc Ninh dự kiến cần khoảng 35.805 tỷ đồng để nâng cấp hệ thống thủy lợi, đê điều và chống ngập lụt; trong đó giai đoạn 2025–2030 cần khoảng 20.535 tỷ đồng, giai đoạn sau năm 2030 cần khoảng 15.270 tỷ đồng. Mục tiêu là bảo đảm tưới, tiêu cho sản xuất, dân sinh, đô thị và khu công nghiệp, đồng thời nâng cao an toàn đê điều, hồ chứa và các công trình tiêu thoát nước.
Có thể nói, thủy lợi Bắc Ninh mới không còn là thủy lợi nông nghiệp theo nghĩa hẹp. Đó là hệ thống hạ tầng chiến lược để bảo vệ sự vận hành của một tỉnh công nghiệp – đô thị – nông nghiệp. Nếu tiêu thoát nước không tốt, không chỉ ruộng đồng bị úng mà khu công nghiệp, đô thị, đường giao thông, làng nghề và đời sống dân cư cũng bị ảnh hưởng.
Môi trường: điểm nghẽn lớn nhất của một tỉnh công nghiệp – làng nghề – nông nghiệp
Môi trường là thách thức rất lớn của Bắc Ninh mới. Tỉnh có mật độ công nghiệp cao, nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, đô thị hóa nhanh, chăn nuôi, nông nghiệp thâm canh và hệ thống sông ngòi dày đặc. Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhưng cũng tạo áp lực lớn lên không khí, nước mặt, đất, kênh mương và chất thải rắn.
Một trong những vấn đề nổi bật nhất là môi trường làng nghề. Bắc Ninh có nhiều làng nghề truyền thống và làng nghề công nghiệp phát triển mạnh, trong đó có các khu vực từng nổi cộm về ô nhiễm như làng nghề giấy Phong Khê, tái chế kim loại, sản xuất đồ gỗ, chế biến nông sản, gốm, vật liệu xây dựng. Các nguồn ô nhiễm chủ yếu đến từ nước thải, khí thải, bụi, chất thải rắn công nghiệp, hóa chất, tiếng ồn và hoạt động sản xuất xen lẫn khu dân cư.
Áp lực chất thải rắn cũng rất lớn. Dự thảo Đề án tổng thể bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Ninh giai đoạn mới nêu lượng chất thải rắn phát sinh lớn từ nhiều nguồn; riêng chất thải rắn nông nghiệp khoảng 2.546 tấn/ngày, trong khi tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt khoảng 95,8%. Tỷ lệ thu gom cao là tín hiệu tích cực, nhưng khối lượng chất thải lớn cho thấy yêu cầu xử lý hiện đại, phân loại tại nguồn, tái chế, tái sử dụng và kinh tế tuần hoàn là rất cấp bách.
Môi trường nước là vấn đề cần đặc biệt chú ý. Hệ thống sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống và các kênh tiêu nhận nhiều nguồn thải từ đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi và nông nghiệp. Nếu không kiểm soát nghiêm nguồn thải, ô nhiễm nước sẽ tác động trực tiếp đến tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản, sinh hoạt, cảnh quan và sức khỏe cộng đồng.
Bắc Ninh mới cũng có thêm không gian rừng, hồ, đồi núi từ Bắc Giang cũ. Đây là tài sản sinh thái quan trọng, nhất là ở khu vực Yên Tử, Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Cấm Sơn, Khuôn Thần. Rừng và hồ chứa giúp giữ nước, giảm lũ, duy trì dòng chảy mùa khô, bảo vệ đa dạng sinh học và tạo nền tảng cho du lịch sinh thái. Nếu chỉ tập trung vào công nghiệp mà xem nhẹ rừng, hồ và vùng sinh thái phía Bắc, tỉnh sẽ mất đi một phần quan trọng của “hạ tầng tự nhiên”.
Thuận lợi lớn của Bắc Ninh mới
Thuận lợi lớn nhất của Bắc Ninh mới là sự bổ sung rất rõ giữa hai địa phương cũ. Bắc Ninh cũ có công nghiệp, hạ tầng, đô thị, vị trí gần Hà Nội, khu công nghiệp và khả năng thu hút đầu tư rất mạnh. Bắc Giang cũ có nông nghiệp hàng hóa, cây ăn quả, rừng, hồ chứa, vùng trung du, không gian phát triển rộng hơn. Sự kết hợp này tạo ra một tỉnh có thể phát triển đồng thời công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp đặc sản, chế biến nông sản, logistics và kinh tế xanh.
Thuận lợi thứ hai là nông nghiệp có sản phẩm chủ lực có thương hiệu mạnh. Vải thiều, cây ăn quả, rau màu, chăn nuôi, thủy sản nội đồng và sản phẩm OCOP có khả năng kết nối với thị trường trong nước và xuất khẩu. Đặc biệt, vùng vải thiều có diện tích lớn, có tiêu chuẩn VietGAP, GlobalG.A.P và đã hình thành hệ thống xúc tiến tiêu thụ khá bài bản.
Thuận lợi thứ ba là Bắc Ninh có vị trí kết nối rất tốt. Tỉnh nằm giữa Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Hưng Yên; đây là lợi thế lớn cho công nghiệp, logistics, tiêu thụ nông sản, xuất khẩu và liên kết vùng.
Thuận lợi thứ tư là tỉnh có không gian sinh thái đa dạng hơn sau sáp nhập. Từ vùng đồng bằng công nghiệp – đô thị đến vùng trung du, hồ chứa, rừng và cây ăn quả, Bắc Ninh có điều kiện để phát triển mô hình cân bằng hơn giữa công nghiệp, nông nghiệp và môi trường.
Khó khăn và thách thức chủ yếu
Khó khăn lớn nhất là áp lực môi trường. Công nghiệp, làng nghề, đô thị hóa, chăn nuôi, nông nghiệp thâm canh và giao thông đều tạo nguồn thải. Nếu không kiểm soát tốt, môi trường nước, không khí và đất sẽ trở thành điểm nghẽn của phát triển.
Khó khăn thứ hai là hệ thống thủy lợi – tiêu thoát nước đang chịu áp lực lớn. Nhiều công trình xây dựng từ lâu, năng lực tiêu giảm, trong khi đô thị và khu công nghiệp mở rộng nhanh làm tăng diện tích bề mặt không thấm nước, tăng dòng chảy mặt và tăng nguy cơ úng ngập.
Khó khăn thứ ba là cạnh tranh đất đai giữa công nghiệp, đô thị và nông nghiệp. Bắc Ninh mới cần giữ được những vùng nông nghiệp đặc sản, vùng cây ăn quả, vùng rừng, hồ, hành lang sông và vùng thoát lũ. Nếu tất cả đều bị chuyển sang đất công nghiệp – đô thị, tỉnh sẽ mất cân bằng sinh thái và mất dư địa phát triển nông nghiệp giá trị cao.
Khó khăn thứ tư là sản xuất nông nghiệp chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu và thị trường. Vải thiều, nhãn, cây ăn quả, lúa, chăn nuôi đều có rủi ro về thời tiết, sâu bệnh, dịch bệnh và biến động giá. Tỉnh cần nâng cấp hệ thống dự báo, bảo hiểm nông nghiệp, liên kết tiêu thụ và chế biến sâu.
Khó khăn thứ năm là quản trị sau sáp nhập. Bắc Ninh mới có 99 xã, phường với điều kiện rất khác nhau: phường công nghiệp, xã nông nghiệp, xã miền núi, vùng rừng, vùng hồ, vùng làng nghề, vùng ven sông. Một chính sách chung sẽ không đủ; tỉnh cần quản lý theo vùng chức năng và dựa trên dữ liệu.
Hướng phát triển phù hợp
Theo em, Bắc Ninh mới nên phát triển theo hướng: công nghiệp xanh – nông nghiệp đặc sản chất lượng cao – thủy lợi thông minh – bảo vệ môi trường làng nghề – bảo vệ sông, rừng và hồ chứa.
Về nông nghiệp, cần ưu tiên vải thiều, cây ăn quả, rau màu, chăn nuôi an toàn sinh học, thủy sản nội đồng và sản phẩm OCOP. Trọng tâm không phải là tăng diện tích, mà là nâng chất lượng, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu, thương mại điện tử và xuất khẩu bền vững.
Về thủy lợi, cần hiện đại hóa hệ thống trạm bơm, kênh tiêu, đê điều, hồ chứa, cống qua đê và hệ thống quan trắc mưa – mực nước – ngập úng. Bắc Ninh cần xem tiêu thoát nước cho đô thị và khu công nghiệp là một nhiệm vụ ngang hàng với tưới tiêu nông nghiệp.
Về môi trường, cần xử lý dứt điểm các điểm nóng làng nghề, kiểm soát nghiêm nước thải khu công nghiệp, cụm công nghiệp, chăn nuôi và đô thị. Tỉnh cũng cần phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp và công nghiệp: tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, xử lý chất thải chăn nuôi, giảm chất thải nhựa, phân loại rác tại nguồn và tăng tỷ lệ tái chế.
Về không gian sinh thái, cần bảo vệ rừng, hồ chứa, hành lang sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống và các vùng thoát lũ. Đây là phần “hạ tầng mềm” rất quan trọng để tỉnh thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm ngập úng và giữ chất lượng môi trường sống.
Nhận định tổng quát
Bắc Ninh sau sáp nhập có tiềm năng trở thành một tỉnh phát triển rất mạnh của miền Bắc: vừa là trung tâm công nghiệp – công nghệ cao, vừa có vùng nông nghiệp đặc sản, vùng cây ăn quả nổi tiếng, hệ thống rừng – hồ – sông phong phú và vị trí liên kết vùng rất thuận lợi.
Nhưng điểm nghẽn lớn nhất cũng rất rõ: áp lực môi trường từ công nghiệp và làng nghề, hệ thống thủy lợi – tiêu thoát nước chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa, cạnh tranh đất nông nghiệp, rủi ro ô nhiễm sông và yêu cầu quản trị một không gian rất đa dạng sau sáp nhập.
Nói ngắn gọn, Bắc Ninh mới muốn phát triển bền vững thì phải coi nông nghiệp – thủy lợi – môi trường là một hệ thống thống nhất. Nông nghiệp cần đất tốt, nước sạch và thị trường ổn định; thủy lợi phải bảo vệ được cả ruộng đồng, đô thị và khu công nghiệp; môi trường phải được kiểm soát từ làng nghề đến khu công nghiệp; còn rừng, hồ và các dòng sông chính là nền tảng sinh thái để Bắc Ninh phát triển lâu dài, xanh hơn và đáng sống hơn.

