Skip to content

ĐÔI NÉT VỀ THANH HÓA

 Đỗ Đức Dũng 16/05/2026

Nông nghiệp, thủy lợi và môi trường tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh mới sau sắp xếp địa giới hành chính

Trong bối cảnh cả nước thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, Thanh Hóa là trường hợp cần hiểu cho thật đúng. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội, Thanh Hóa thuộc nhóm các tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp, sáp nhập cấp tỉnh. Như vậy, Thanh Hóa không hợp nhất với tỉnh nào khác; thay đổi lớn của tỉnh nằm ở việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã và chuyển sang mô hình quản trị mới.

Sau sắp xếp cấp xã, Thanh Hóa có 166 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 147 xã và 19 phường; trong đó có 126 xã, 19 phường hình thành sau sắp xếp21 xã không thực hiện sắp xếp. Đây là một thay đổi rất lớn về quản trị cơ sở, bởi mỗi xã, phường mới có quy mô rộng hơn, dân số lớn hơn, địa bàn đa dạng hơn và khối lượng công việc về đất đai, nông nghiệp, thủy lợi, môi trường cũng phức tạp hơn trước.

Thanh Hóa vốn là một tỉnh có quy mô tự nhiên lớn, địa hình đa dạng và vị trí rất đặc biệt ở Bắc Trung Bộ. Tỉnh có diện tích khoảng 11.129,48 km², là một trong những tỉnh có diện tích lớn của cả nước; phía Đông giáp Biển Đông với 102 km bờ biển, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn của Lào với đường biên giới dài 192 km. Địa hình Thanh Hóa thấp dần từ Tây sang Đông, gồm vùng núi – trung du, đồng bằng và ven biển; trong đó vùng núi, trung du chiếm khoảng 73,3% diện tích tự nhiên, đồng bằng chiếm 16%, vùng ven biển chiếm 10,7%.

Chính cấu trúc đó tạo nên một Thanh Hóa rất đặc biệt: vừa có miền núi rộng lớn, vừa có đồng bằng sông Mã – sông Chu, vừa có vùng ven biển, cảng biển, khu kinh tế, rừng, hồ chứa, thủy sản và nông nghiệp hàng hóa. Vì vậy, khi phân tích nông nghiệp, thủy lợi và môi trường Thanh Hóa trong giai đoạn mới, không thể chỉ nhìn tỉnh như một địa phương nông nghiệp truyền thống, mà phải nhìn như một không gian tổng hợp giữa rừng – sông – đồng bằng – biển – công nghiệp – đô thị – biên giới.

Nông nghiệp Thanh Hóa: quy mô lớn, đa dạng nhưng chịu áp lực thiên tai

Nông nghiệp Thanh Hóa có vai trò rất quan trọng trong bảo đảm sinh kế nông thôn, ổn định xã hội và cân bằng sinh thái của tỉnh. Năm 2025, lĩnh vực nông nghiệp và môi trường của tỉnh ghi nhận sản lượng lương thực đạt khoảng 1,5 triệu tấn; diện tích tích tụ, tập trung đất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt hơn 4.470 ha. Đây là những con số cho thấy nông nghiệp Thanh Hóa không nhỏ về quy mô và đang từng bước chuyển từ sản xuất phân tán sang sản xuất tập trung, ứng dụng công nghệ cao hơn.

Nếu nhìn theo không gian, nông nghiệp Thanh Hóa có thể chia thành ba vùng lớn. Vùng miền núi và trung du có lợi thế về rừng, luồng, gỗ, cây dược liệu, cây ăn quả, mía, sắn, chăn nuôi đại gia súc và kinh tế dưới tán rừng. Vùng đồng bằng sông Mã – sông Chu là vùng trọng điểm về lúa, rau màu, chăn nuôi, cây thực phẩm và nông nghiệp hàng hóa. Vùng ven biển phát triển thủy sản, nuôi trồng nước lợ, khai thác biển, dịch vụ hậu cần nghề cá và nông nghiệp thích ứng với mặn – lợ.

Một điểm đáng chú ý là cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi tập trung, sản phẩm OCOP, nông nghiệp công nghệ cao và chế biến nông sản đang dần trở thành hướng phát triển quan trọng. Với quy mô dân số lớn, thị trường nội tỉnh rộng, kết nối giao thông thuận lợi và khu kinh tế Nghi Sơn đang phát triển, Thanh Hóa có điều kiện để xây dựng chuỗi giá trị nông sản từ sản xuất, chế biến, logistics đến tiêu thụ.

Tuy nhiên, nông nghiệp Thanh Hóa cũng chịu áp lực rất lớn. Vùng miền núi dễ bị lũ ống, lũ quét, sạt lở đất; vùng đồng bằng dễ bị úng ngập khi mưa lớn; vùng ven biển chịu tác động của bão, nước dâng, xâm nhập mặn và biến động nguồn lợi thủy sản. Bên cạnh đó, sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết chuỗi, chất lượng nông sản chưa đồng đều, áp lực dịch bệnh chăn nuôi và biến động thị trường vẫn là những điểm nghẽn lớn.

Vì vậy, hướng đi của nông nghiệp Thanh Hóa không nên là mở rộng diện tích bằng mọi giá, mà phải là nông nghiệp hàng hóa quy mô hợp lý, ứng dụng công nghệ cao, an toàn sinh học, hữu cơ, tuần hoàn và gắn với chế biến sâu. Với một tỉnh có đầy đủ rừng, đồng bằng và biển như Thanh Hóa, lợi thế lớn nhất không chỉ là sản lượng, mà là khả năng tổ chức lại sản xuất theo vùng sinh thái.

Thủy sản và kinh tế ven biển: lợi thế 102 km bờ biển

Vùng ven biển Thanh Hóa là một không gian rất quan trọng. Tỉnh có 102 km bờ biển, các vùng cửa sông, bãi triều, khu nuôi trồng thủy sản, cảng cá, dịch vụ hậu cần nghề cá và khu kinh tế ven biển. Đây là lợi thế lớn để phát triển thủy sản, logistics, du lịch biển và kinh tế biển.

Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh ước đạt khoảng 216 nghìn tấn, tăng 12% so với năm 2020. Ngành thủy sản phát triển trên ba trụ cột: khai thác, nuôi trồng và dịch vụ hậu cần nghề cá.

Riêng khai thác thủy sản năm 2025 đạt trên 143 nghìn tấn, vượt kế hoạch và tăng nhẹ so với năm trước. Toàn tỉnh có hơn 6.200 tàu cá, trong đó hơn 1.000 tàu khai thác vùng khơi, gần 800 tàu vùng lộng và hơn 4.400 tàu khai thác ven bờ. Quy mô này vừa là lợi thế sinh kế cho ngư dân, vừa đặt ra yêu cầu phải quản lý khai thác bền vững, giảm áp lực lên nguồn lợi ven bờ và thực hiện nghiêm các quy định chống khai thác bất hợp pháp.

Với Thanh Hóa, phát triển thủy sản không thể chỉ tính bằng số tấn cá, tôm khai thác hoặc nuôi trồng. Điều quan trọng hơn là chất lượng vùng nuôi, bảo vệ nguồn lợi, kiểm soát môi trường nước, nâng cấp cảng cá, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu và giảm rủi ro thiên tai. Vùng ven biển cũng cần được nhìn như một hệ sinh thái tổng hợp, nơi nông nghiệp, thủy sản, du lịch, công nghiệp, cảng biển và dân cư cùng tồn tại.

Thủy lợi Thanh Hóa: nền tảng của sản xuất và phòng chống thiên tai

Thủy lợi là một trong những trụ cột quan trọng nhất của Thanh Hóa. Tỉnh có hệ thống sông Mã – sông Chu, nhiều phụ lưu, nhiều hồ chứa, đập dâng, kênh mương, trạm bơm và vùng tưới lớn. Với địa hình từ núi xuống đồng bằng rồi ra biển, thủy lợi Thanh Hóa không chỉ phục vụ tưới tiêu nông nghiệp, mà còn liên quan trực tiếp đến chống lũ, chống hạn, cấp nước dân sinh, công nghiệp, kiểm soát mặn và bảo vệ môi trường.

Theo Quyết định số 645/QĐ-UBND năm 2025, Thanh Hóa có tổng cộng 610 hồ chứa nước thủy lợi; trong đó danh mục lần này gồm 609 hồ chứa có chiều cao đập từ 5 m trở lên hoặc dung tích toàn bộ từ 50.000 m³ trở lên, cùng với hồ chứa nước Cửa Đạt được Thủ tướng Chính phủ quyết định là công trình quan trọng đặc biệt. Ngoài ra, danh mục còn có 21 đập dâng có chiều cao từ 5 m trở lên.

Hệ thống hồ đập này giữ vai trò rất lớn trong điều tiết nước, phòng chống thiên tai và bảo đảm sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, qua rà soát năm 2025, toàn tỉnh có trên 70 hồ chứa đang trong tình trạng xuống cấp cần được sửa chữa, nâng cấp; một số nguồn kiểm tra trước mùa mưa bão cũng ghi nhận hàng chục hồ chứa hư hỏng, xuống cấp nghiêm trọng, nhất là ở khu vực miền núi.

Một thách thức khác là hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn. Kế hoạch phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn năm 2025 của UBND tỉnh Thanh Hóa nêu rõ yêu cầu chủ động ứng phó trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thời tiết ngày càng khắc nghiệt, mực nước sông suối xuống thấp và nhu cầu nước ngày càng tăng. Kế hoạch dự báo diện tích có nguy cơ thiếu nước, hạn hán, xâm nhập mặn khoảng 13.300 – 17.200 ha, trong đó diện tích có khả năng bị ảnh hưởng năng suất khoảng 7.900 – 8.700 ha.

Điều này cho thấy thủy lợi Thanh Hóa cần chuyển mạnh từ tư duy “xây công trình” sang tư duy quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực. Không chỉ cần hồ chứa, kênh mương và trạm bơm, tỉnh còn cần hệ thống quan trắc mưa – lũ – hạn – mặn theo thời gian thực, vận hành hồ chứa an toàn, bảo vệ rừng đầu nguồn, nạo vét kênh tiêu, kiểm soát khai thác nước và sử dụng nước tiết kiệm.

Môi trường Thanh Hóa: rừng đầu nguồn, sông lớn, biển và áp lực công nghiệp

Môi trường Thanh Hóa có tính đa dạng rất cao. Vùng phía Tây là rừng, núi, khu bảo tồn, đất dốc và các lưu vực đầu nguồn. Vùng trung du – đồng bằng là không gian sản xuất nông nghiệp, dân cư, đô thị, làng nghề và chăn nuôi. Vùng ven biển là không gian thủy sản, du lịch, cảng biển, công nghiệp và khu kinh tế Nghi Sơn.

Năm 2025, tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh đạt khoảng 54%. Đây là một lợi thế rất quan trọng, vì rừng Thanh Hóa không chỉ là tài nguyên lâm nghiệp mà còn là “hạ tầng sinh thái” giúp giữ nước, giảm lũ, chống xói mòn, bảo vệ đất, bảo vệ hồ chứa và duy trì đa dạng sinh học.

Tuy nhiên, môi trường Thanh Hóa đang chịu nhiều sức ép. Ở miền núi, rủi ro lớn là mất rừng, suy thoái đất, sạt lở, lũ quét và khó khăn trong bảo vệ nguồn sinh thủy. Ở đồng bằng, áp lực đến từ nước thải sinh hoạt, chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, làng nghề, rác thải nông thôn và ô nhiễm kênh mương nội đồng. Ở ven biển, áp lực đến từ nuôi trồng thủy sản, khai thác biển, du lịch, đô thị hóa, cảng biển và công nghiệp.

Khu kinh tế Nghi Sơn là động lực tăng trưởng lớn của Thanh Hóa, nhưng cũng là khu vực cần giám sát môi trường đặc biệt nghiêm ngặt. Phát triển công nghiệp ven biển chỉ bền vững khi đi cùng kiểm soát nước thải, khí thải, chất thải rắn, an toàn hóa chất, môi trường biển và sinh kế của cộng đồng ven biển. Với một tỉnh vừa có biển, vừa có rừng, vừa có công nghiệp lớn, môi trường không thể là phần xử lý sau cùng, mà phải là điều kiện đặt ra ngay từ quy hoạch phát triển.

Vấn đề chất thải rắn cũng cần được quan tâm. Năm 2025, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt của Thanh Hóa đạt gần 94%. Đây là kết quả tích cực, nhưng với quy mô 166 xã, phường sau sắp xếp và quá trình đô thị hóa ngày càng mạnh, tỉnh vẫn cần tiếp tục nâng cấp hệ thống phân loại, thu gom, xử lý rác, đặc biệt ở nông thôn, miền núi và vùng ven biển.

Thuận lợi lớn của Thanh Hóa

Thuận lợi lớn nhất của Thanh Hóa là quy mô và tính đa dạng. Ít tỉnh nào có đồng thời miền núi rộng, đồng bằng lớn, bờ biển dài, biên giới quốc tế, hệ thống sông lớn, hồ chứa lớn, khu kinh tế ven biển và thị trường nội tỉnh rộng như Thanh Hóa.

Thuận lợi thứ hai là nền nông nghiệp có quy mô đáng kể, với sản lượng lương thực khoảng 1,5 triệu tấn, hệ thống cây trồng – vật nuôi đa dạng và dư địa phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn.

Thuận lợi thứ ba là hệ thống thủy lợi tương đối lớn với 610 hồ chứa nước thủy lợi, trong đó có các công trình quan trọng như Cửa Đạt, cùng nhiều hồ, đập, kênh mương, trạm bơm phục vụ sản xuất và dân sinh.

Thuận lợi thứ tư là kinh tế biển và thủy sản có nền tảng tốt. Với 102 km bờ biển và tổng sản lượng thủy sản khoảng 216 nghìn tấn năm 2025, Thanh Hóa có điều kiện phát triển thủy sản, du lịch biển, logistics, cảng biển và công nghiệp chế biến thủy sản.

Khó khăn và thách thức chủ yếu

Khó khăn lớn nhất là thiên tai ngày càng cực đoan. Thanh Hóa có vùng núi rộng, sông lớn, đồng bằng ven biển và nhiều hồ chứa. Điều này làm cho tỉnh cùng lúc phải đối mặt với lũ quét, sạt lở đất, ngập úng đồng bằng, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, bão và nước dâng ven biển.

Khó khăn thứ hai là an toàn hồ đập. Với 610 hồ chứa, trong đó nhiều công trình đã xuống cấp, việc bảo đảm an toàn hồ đập là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Nếu một hồ chứa ở miền núi mất an toàn, hậu quả không chỉ là thiệt hại công trình mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến dân cư và sản xuất hạ du.

Khó khăn thứ ba là nông nghiệp vẫn còn chịu rủi ro thị trường và sản xuất phân tán. Dù đã có chuyển biến về tích tụ đất đai và nông nghiệp công nghệ cao, nhiều vùng sản xuất vẫn cần nâng cấp về liên kết chuỗi, chế biến sâu, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Khó khăn thứ tư là áp lực môi trường từ công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển ven biển. Khu kinh tế Nghi Sơn, các khu công nghiệp, đô thị, du lịch biển, chăn nuôi và làng nghề đều làm tăng nhu cầu xử lý nước thải, rác thải, khí thải và bảo vệ nguồn nước.

Khó khăn thứ năm là quản trị sau sắp xếp cấp xã. Các xã, phường mới có địa bàn rộng hơn, nhiệm vụ nhiều hơn, trong khi năng lực dữ liệu, nhân lực chuyên môn về đất đai, tài nguyên nước, môi trường, phòng chống thiên tai ở cấp cơ sở chưa phải nơi nào cũng đáp ứng ngay được.

Hướng phát triển phù hợp

Theo em, Thanh Hóa nên phát triển theo hướng: nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao – thủy lợi an toàn, thông minh – kinh tế rừng – kinh tế biển sạch – công nghiệp xanh.

Về nông nghiệp, tỉnh cần phát triển theo vùng sinh thái. Miền núi ưu tiên kinh tế rừng, cây dược liệu, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc và sản phẩm bản địa. Trung du ưu tiên cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi, nông nghiệp hàng hóa và chế biến. Đồng bằng ưu tiên lúa chất lượng cao, rau màu, thực phẩm an toàn và nông nghiệp công nghệ cao. Ven biển ưu tiên thủy sản, nuôi trồng nước lợ, dịch vụ hậu cần nghề cá và nông nghiệp thích ứng mặn – lợ.

Về thủy lợi, trọng tâm là an toàn hồ đập, nâng cấp các hồ chứa xuống cấp, hiện đại hóa quan trắc mưa – lũ – hạn – mặn, vận hành hồ chứa theo dữ liệu, bảo vệ hành lang thoát lũ, nạo vét hệ thống tiêu, sử dụng nước tiết kiệm và quản lý theo lưu vực sông Mã – sông Chu – sông Yên.

Về môi trường, Thanh Hóa cần coi rừng đầu nguồn, hồ chứa, sông lớn, vùng ven biển và khu vực Nghi Sơn là các không gian môi trường chiến lược. Phát triển công nghiệp phải đi cùng kiểm soát nguồn thải; phát triển nông nghiệp phải giảm hóa chất, tăng tuần hoàn; phát triển thủy sản phải gắn với bảo vệ nguồn lợi và chất lượng nước biển.

Nhận định tổng quát

Thanh Hóa không sáp nhập cấp tỉnh, nhưng vẫn bước vào một bối cảnh phát triển mới sau sắp xếp cấp xã và vận hành mô hình quản trị mới. Đây là tỉnh có vị trí chiến lược ở Bắc Trung Bộ, có diện tích lớn, dân số đông, rừng rộng, đồng bằng sản xuất lớn, bờ biển dài, hệ thống sông hồ quan trọng và khu kinh tế ven biển có sức kéo mạnh.

Lợi thế của Thanh Hóa rất rõ: rừng giữ nước, sông nuôi đồng bằng, thủy lợi bảo vệ sản xuất, biển mở không gian phát triển, công nghiệp tạo động lực tăng trưởng. Nhưng điểm nghẽn cũng rõ không kém: thiên tai cực đoan, an toàn hồ đập, hạn – mặn, suy giảm môi trường, áp lực công nghiệp và yêu cầu quản trị cơ sở sau sắp xếp.

Nói ngắn gọn, Thanh Hóa muốn phát triển bền vững thì phải coi nông nghiệp – thủy lợi – môi trường là một hệ thống thống nhất. Nông nghiệp cần nước và thị trường ổn định; thủy lợi phải bảo đảm an toàn và điều tiết được lũ – hạn – mặn; rừng phải được giữ để bảo vệ nguồn nước; biển phải được khai thác theo hướng bền vững; còn môi trường phải là điều kiện nền tảng để Thanh Hóa phát triển lâu dài, ổn định và đáng sống.