Đỗ Đức Dũng 16/05/2026
Nông nghiệp, thủy lợi và môi trường tỉnh Cà Mau trong bối cảnh mới sau sáp nhập địa giới hành chính
Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, Cà Mau bước vào một giai đoạn phát triển mới với quy mô và không gian rộng hơn trước rất nhiều. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau cũ được sắp xếp thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Cà Mau. Sau sắp xếp, tỉnh Cà Mau có diện tích tự nhiên 7.942,39 km², dân số 2.606.672 người, giáp tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ và Biển Đông.
Sau sắp xếp cấp xã, Cà Mau có 64 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 55 xã và 9 phường; trong đó có 54 xã, 9 phường hình thành sau sắp xếp và 1 xã không thực hiện sắp xếp là xã Hồ Thị Kỷ. Đây là quy mô quản trị mới, đòi hỏi tỉnh phải tổ chức lại đồng bộ các lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi, môi trường, kinh tế biển, đô thị, công nghiệp chế biến và bảo vệ sinh thái ven biển.
Điểm rất đặc biệt là Cà Mau mới không chỉ là vùng cực Nam Tổ quốc theo nghĩa địa lý, mà còn là một không gian sinh thái – kinh tế rất đặc thù của Đồng bằng sông Cửu Long. Tỉnh mới được hình thành từ hai địa phương cũ có nhiều nét tương đồng nhưng cũng bổ sung rõ rệt cho nhau: Cà Mau cũ mạnh về tôm, cua, rừng ngập mặn, Mũi Cà Mau, thủy sản ven biển và hệ sinh thái đất ngập nước; Bạc Liêu cũ bổ sung vùng lúa – tôm, sản xuất muối, nuôi tôm công nghệ cao, năng lượng gió, kinh tế biển và văn hóa đồng bằng ven biển.
Vì vậy, khi nhìn Cà Mau mới trong bối cảnh sau sáp nhập, không thể chỉ gọi đây là “thủ phủ tôm” hay “tỉnh cực Nam”. Đúng hơn, Cà Mau mới là một tỉnh tôm – lúa – rừng – biển – muối – năng lượng – thủy lợi – sinh thái, nơi mọi vấn đề phát triển đều gắn chặt với nước, đất, rừng ngập mặn và biến đổi khí hậu.
Không gian tự nhiên đặc thù của bán đảo Cà Mau
Cà Mau mới nằm ở phần cuối của Đồng bằng sông Cửu Long, nơi hệ thống sông rạch, đất thấp, rừng ngập mặn, vùng mặn – lợ và biển giao thoa rất mạnh. Sau sáp nhập, tỉnh có đường bờ biển khoảng 310 km, thuộc nhóm dài nhất cả nước; trong đó hơn 200 km bờ biển đang bị sạt lở với nhiều mức độ khác nhau. Đây là một đặc điểm rất quan trọng, vì bờ biển vừa là lợi thế phát triển kinh tế biển, vừa là khu vực chịu rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu rất lớn.
Khác với nhiều tỉnh nội đồng, Cà Mau không thể quản lý nước theo một trạng thái cố định. Có nơi cần nước ngọt cho lúa, cây trồng và sinh hoạt; có nơi cần nước mặn – lợ cho tôm, cua và thủy sản; có nơi cần rừng ngập mặn để bảo vệ bờ biển; có nơi cần công trình kiểm soát triều, mặn, ngập và sạt lở. Chính vì vậy, đặc điểm cốt lõi của Cà Mau mới là quản lý hài hòa mặn – ngọt – lợ.
Ở đây, nước mặn không hoàn toàn là “kẻ thù” như trong vùng lúa thuần ngọt, mà có thể là điều kiện sinh thái cho tôm, cua, rừng ngập mặn và thủy sản. Nhưng nếu mặn xâm nhập không kiểm soát, nếu chất lượng nước vùng nuôi xấu đi, nếu rừng ngập mặn suy giảm, thì chính hệ sinh thái sản xuất của tỉnh sẽ bị đe dọa.
Nông nghiệp Cà Mau: thủy sản là trụ cột, nhưng phải đi theo hướng sinh thái
Trong cơ cấu nông nghiệp của Cà Mau mới, thủy sản giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh ước đạt 1.268.500 tấn, tăng 5,56% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng tôm đạt khoảng 585.000 tấn. Những con số này khẳng định vị thế rất lớn của Cà Mau trong ngành thủy sản Việt Nam.
Nếu tính riêng ngành tôm, Cà Mau tiếp tục giữ vai trò dẫn đầu cả nước. Nhiều nguồn chuyên ngành cho biết diện tích nuôi tôm của tỉnh đạt hơn 435.000 ha, chiếm khoảng 40% diện tích nuôi tôm toàn quốc, sản lượng tôm đạt gần 595.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu thủy sản vượt mốc 2,5 tỷ USD. Đây là nền tảng để Cà Mau phát triển thành trung tâm công nghiệp tôm, chế biến thủy sản và xuất khẩu thủy sản lớn của cả nước.
Tuy nhiên, điều đáng quý nhất của Cà Mau không chỉ nằm ở sản lượng tôm lớn, mà nằm ở sự đa dạng của các mô hình sản xuất thích ứng với điều kiện tự nhiên. Cà Mau có mô hình tôm – rừng, nơi người dân nuôi tôm dưới tán rừng ngập mặn; có mô hình lúa – tôm, trong đó mùa mưa tận dụng nước ngọt để trồng lúa, mùa khô dùng nước mặn – lợ để nuôi tôm; có nuôi tôm quảng canh cải tiến, tôm sinh thái, tôm hữu cơ, tôm công nghệ cao và các mô hình nuôi thủy sản kết hợp.
Không gian Bạc Liêu cũ bổ sung thêm cho Cà Mau mới một lợi thế quan trọng: vùng sản xuất muối truyền thống. Vụ muối 2024–2025, diện tích sản xuất muối toàn tỉnh đạt 1.588,01 ha, sản lượng đạt 57.036,1 tấn, vượt 190,1% kế hoạch. Đây là một ngành nghề truyền thống có giá trị văn hóa – sinh kế, nhưng cũng rất nhạy cảm với thời tiết cực đoan và mưa trái mùa.
Nhìn rộng hơn, nông nghiệp Cà Mau không nên được hiểu là nông nghiệp trồng trọt theo nghĩa thông thường. Đây là nền nông nghiệp dựa trên hệ sinh thái mặn – lợ, trong đó thủy sản, rừng ngập mặn, lúa – tôm, muối, cua, cá, nghêu, sò và chế biến thủy sản liên kết chặt chẽ với nhau. Vì vậy, hướng đi phù hợp không phải là mở rộng diện tích bằng mọi giá, mà là nâng chất lượng, kiểm soát môi trường vùng nuôi, truy xuất nguồn gốc, tăng chế biến sâu, phát triển chứng nhận sinh thái và mở rộng thị trường bền vững.
Thủy lợi Cà Mau: không chỉ chống mặn, mà là điều tiết mặn – ngọt – lợ
Với Cà Mau mới, thủy lợi là hệ thống sống còn. Nếu ở nhiều tỉnh, thủy lợi chủ yếu phục vụ tưới tiêu, thì ở Cà Mau, thủy lợi phải làm nhiệm vụ phức tạp hơn nhiều: điều tiết mặn – ngọt – lợ, kiểm soát triều, chống ngập, cấp nước sinh hoạt, bảo vệ vùng nuôi tôm, bảo vệ lúa – tôm, chống sạt lở và hỗ trợ phục hồi rừng ngập mặn.
Sau sáp nhập, tỉnh đã đặt vấn đề điều chỉnh quy hoạch thủy lợi để phù hợp với bối cảnh mới. Chi cục Thủy lợi tỉnh Cà Mau có báo cáo đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch vùng thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, nhằm rà soát lại hệ thống công trình, nhu cầu điều tiết nước và yêu cầu thích ứng trong điều kiện tỉnh mới sau hợp nhất.
Điểm khó nhất của thủy lợi Cà Mau là không thể áp dụng một công thức chung cho toàn tỉnh. Vùng ngọt hóa cần giữ nước ngọt. Vùng tôm – lúa cần thay đổi trạng thái nước theo mùa. Vùng tôm – rừng cần duy trì chế độ mặn – lợ phù hợp với rừng ngập mặn. Vùng ven biển cần đê, kè, rừng phòng hộ và hệ thống cảnh báo triều cường. Vùng đô thị cần tiêu thoát nước và chống ngập. Vùng muối lại cần nắng, độ mặn và điều kiện thủy văn rất riêng.
Do đó, thủy lợi Cà Mau cần chuyển mạnh từ tư duy “ngăn mặn, giữ ngọt” đơn giản sang tư duy quản trị nước theo tiểu vùng sinh thái. Nơi nào cần ngọt thì giữ ngọt; nơi nào phù hợp mặn – lợ thì khai thác mặn – lợ có kiểm soát; nơi nào cần chuyển đổi sản xuất thì phải dựa trên quy luật nước, chứ không áp đặt cơ học.
Trong tương lai, các nhóm giải pháp thủy lợi quan trọng của Cà Mau cần gồm: quan trắc mặn – ngọt theo thời gian thực, vận hành cống linh hoạt, kiểm soát chất lượng nước vùng nuôi, bảo vệ nguồn nước sinh hoạt, nạo vét kênh rạch, chống ngập đô thị, phục hồi rừng ven biển và kết hợp công trình cứng với giải pháp sinh thái.
Môi trường Cà Mau: rừng ngập mặn là lá chắn sinh thái của tỉnh
Môi trường là nền tảng sống còn của Cà Mau mới. Tỉnh có hệ sinh thái rừng ngập mặn rất đặc biệt, trong đó Vườn quốc gia Mũi Cà Mau có tổng diện tích tự nhiên 41.862 ha. Đây là một trong những khu vực đất ngập nước, rừng ngập mặn và bãi bồi có giá trị sinh thái quan trọng của Việt Nam.
Tuy nhiên, Cà Mau đang chịu áp lực sạt lở bờ biển rất nghiêm trọng. Giai đoạn 2011–2023, tỉnh đã mất khoảng 6.200 ha đất và rừng phòng hộ ven biển do sạt lở; nhiều khu dân cư, công trình hạ tầng và diện tích sản xuất bị đe dọa. Đây là con số rất lớn, cho thấy biến đổi khí hậu, nước biển dâng, triều cường, sóng lớn và sụt lún đất đang tác động trực tiếp đến nền tảng sinh thái của tỉnh.
Đáng chú ý, trong hơn 10 năm qua, Cà Mau đã xây dựng hơn 110 km kè chống sạt lở, bước đầu giúp phục hồi hơn 1.000 ha rừng phòng hộ ven biển. Kết quả này cho thấy nếu kết hợp công trình kỹ thuật với phục hồi sinh thái, Cà Mau có thể từng bước khôi phục “lá chắn xanh” ven biển.
Nhưng áp lực môi trường không chỉ nằm ở sạt lở. Với diện tích nuôi tôm rất lớn, nếu chất lượng nước không được kiểm soát tốt, dịch bệnh, bùn thải ao nuôi, chất hữu cơ, hóa chất xử lý nước và nước thải chế biến thủy sản có thể tác động ngược lại chính ngành tôm. Đây là điều cần nhìn rất thẳng: ngành tôm muốn bền vững thì môi trường nước phải bền vững.
Ngoài ra, khi Cà Mau mới phát triển mạnh hơn về công nghiệp chế biến thủy sản, năng lượng tái tạo, đô thị ven biển, du lịch sinh thái và hạ tầng giao thông, áp lực rác thải, nước thải, rác nhựa, ô nhiễm kênh rạch và suy giảm rừng ngập mặn sẽ tăng. Vì vậy, bảo vệ môi trường không thể là việc đi sau phát triển, mà phải được đặt ngay từ đầu trong quy hoạch.
Thuận lợi lớn của Cà Mau mới
Thuận lợi lớn nhất của Cà Mau mới là quy mô thủy sản rất lớn và vị thế ngành tôm rất rõ. Với tổng sản lượng thủy sản hơn 1,26 triệu tấn và sản lượng tôm khoảng 585.000 tấn năm 2025, Cà Mau có nền tảng để phát triển thành trung tâm thủy sản sinh thái, chế biến sâu và xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam.
Thuận lợi thứ hai là sự bổ sung giữa Cà Mau cũ và Bạc Liêu cũ. Cà Mau cũ có tôm – rừng, Mũi Cà Mau, cua, rừng ngập mặn, biển và hệ sinh thái cực Nam. Bạc Liêu cũ có lúa – tôm, muối, năng lượng gió, nuôi tôm công nghệ cao, vùng ven biển Đông và kinh nghiệm phát triển kinh tế biển. Khi hợp nhất, tỉnh có thể xây dựng chuỗi giá trị rộng hơn, từ sản xuất, chế biến, xuất khẩu đến du lịch sinh thái và năng lượng tái tạo.
Thuận lợi thứ ba là hệ sinh thái mặn – lợ rất đặc biệt. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nhiều nơi xem mặn là rủi ro, nhưng Cà Mau có kinh nghiệm lâu dài trong việc thích ứng với mặn, khai thác mặn và tổ chức sản xuất theo mùa nước. Mô hình tôm – rừng và lúa – tôm là những kinh nghiệm rất quý cho phát triển nông nghiệp thích ứng khí hậu.
Thuận lợi thứ tư là rừng ngập mặn và bờ biển tạo ra nền tảng phát triển xanh. Nếu được bảo vệ tốt, rừng ngập mặn không chỉ là lá chắn phòng hộ mà còn có thể gắn với tôm sinh thái, tín chỉ carbon, du lịch sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và giáo dục môi trường.
Khó khăn và thách thức chủ yếu
Khó khăn lớn nhất là sạt lở bờ biển và suy giảm rừng ngập mặn. Khi rừng ven biển mất đi, đê biển, đường giao thông, khu dân cư, vùng nuôi tôm và đất sản xuất đều bị đe dọa. Đây là thách thức dài hạn, không thể xử lý bằng các giải pháp cục bộ, ngắn hạn.
Khó khăn thứ hai là quản lý nước quá phức tạp. Cùng một tỉnh nhưng có vùng cần nước ngọt, vùng cần nước mặn – lợ, vùng cần chuyển đổi linh hoạt theo mùa. Nếu vận hành công trình không phù hợp, có thể nơi này được lợi nhưng nơi khác chịu thiệt. Vì vậy, thủy lợi Cà Mau đòi hỏi dữ liệu, dự báo và điều hành rất tinh tế.
Khó khăn thứ ba là ngành tôm dễ tổn thương trước dịch bệnh, thị trường và môi trường. Tôm là ngành hàng chủ lực nhưng cũng là ngành hàng nhạy cảm. Chỉ cần chất lượng nước xấu, dịch bệnh lan rộng, chi phí thức ăn tăng hoặc thị trường xuất khẩu biến động, người nuôi có thể gặp khó khăn lớn.
Khó khăn thứ tư là mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế biển và bảo vệ sinh thái ven biển. Cà Mau có tiềm năng lớn về năng lượng gió, thủy sản, du lịch, cảng biển và công nghiệp chế biến. Nhưng nếu phát triển thiếu kiểm soát, các hệ sinh thái ven biển, rừng phòng hộ và vùng nuôi sinh thái có thể bị tổn thương.
Khó khăn thứ năm là quản trị sau sáp nhập. Tỉnh mới có 64 xã, phường, nhưng không gian sinh thái lại rất đa dạng: vùng tôm – rừng, vùng lúa – tôm, vùng muối, vùng đô thị, vùng ven biển sạt lở, vùng ngọt hóa và vùng rừng ngập mặn. Mỗi vùng cần cách quản lý riêng, không thể dùng một chính sách chung cho tất cả.
Hướng phát triển phù hợp
Theo em, Cà Mau mới nên phát triển theo hướng: trung tâm thủy sản sinh thái – nông nghiệp thích ứng khí hậu – thủy lợi thông minh – bảo vệ rừng ngập mặn – kinh tế biển xanh.
Về nông nghiệp và thủy sản, cần ưu tiên tôm sinh thái, tôm hữu cơ, tôm – rừng, lúa – tôm, cua, cá, muối, sản phẩm OCOP và chế biến sâu. Trọng tâm không chỉ là tăng sản lượng, mà là tăng giá trị, kiểm soát chất lượng nước, giảm phát thải, mở rộng chứng nhận quốc tế và xây dựng thương hiệu “tôm sinh thái Cà Mau”.
Về thủy lợi, cần quản lý theo tiểu vùng: vùng ngọt hóa, vùng tôm – lúa, vùng tôm – rừng, vùng muối, vùng ven biển và vùng đô thị. Tỉnh cần ưu tiên quan trắc mặn – ngọt tự động, vận hành cống linh hoạt, bảo vệ nước sinh hoạt, kiểm soát nước vùng nuôi và kết hợp công trình kè với phục hồi rừng ngập mặn.
Về môi trường, cần coi rừng ngập mặn, bờ biển, đất ngập nước, Mũi Cà Mau và hệ thống kênh rạch là tài sản chiến lược. Phát triển thủy sản, năng lượng, du lịch và công nghiệp chế biến phải đi cùng xử lý nước thải, giảm rác thải nhựa, phục hồi rừng và bảo vệ bờ biển.
Nhận định tổng quát
Cà Mau mới có tiềm năng trở thành một trong những tỉnh tiêu biểu nhất cả nước về thủy sản sinh thái, tôm hữu cơ, nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu, kinh tế biển xanh và bảo tồn rừng ngập mặn. Lợi thế lớn nhất của tỉnh là sự kết hợp giữa Cà Mau cũ – vùng rừng ngập mặn, Mũi Cà Mau, tôm – rừng, cua, biển và hệ sinh thái cực Nam – với Bạc Liêu cũ – vùng lúa – tôm, muối, năng lượng gió và nuôi tôm công nghệ cao.
Nhưng điểm nghẽn lớn nhất cũng rất rõ: sạt lở bờ biển, suy giảm rừng ngập mặn, quản lý nước mặn – ngọt – lợ phức tạp, rủi ro dịch bệnh thủy sản, áp lực môi trường vùng nuôi và yêu cầu quản trị một không gian rộng sau sáp nhập.
Nói ngắn gọn, Cà Mau mới muốn phát triển bền vững thì phải coi nông nghiệp – thủy lợi – môi trường là một hệ thống thống nhất. Tôm cần nước sạch và hệ sinh thái ổn định; lúa cần được tổ chức theo mùa nước phù hợp; rừng ngập mặn là lá chắn bảo vệ bờ biển; thủy lợi phải điều tiết được mặn – ngọt – lợ; còn môi trường chính là điều kiện để tỉnh phát triển lâu dài, ổn định và đáng sống.

