Skip to content

ĐÔI NÉT VỀ KHÁNH HÒA

Đỗ Đức Dũng 16/05/2026

Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, Khánh Hòa trở thành một trong những địa phương có thay đổi rất lớn về không gian phát triển. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Ninh Thuậntỉnh Khánh Hòa cũ được sắp xếp thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Khánh Hòa. Sau sắp xếp, tỉnh Khánh Hòa có diện tích tự nhiên 8.555,86 km², dân số 2.243.554 người, giáp tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Lâm Đồng và Biển Đông. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để xác định đúng không gian Khánh Hòa mới sau sáp nhập.

Sau sắp xếp cấp xã, Khánh Hòa có 65 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 48 xã, 16 phường và 1 đặc khu. Đặc khu này là đặc khu Trường Sa, được hình thành trên cơ sở thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn. Như vậy, Khánh Hòa mới không chỉ là một tỉnh ven biển thông thường, mà là địa phương có vị trí đặc biệt về biển, đảo, quốc phòng, kinh tế biển, du lịch, thủy sản, nông nghiệp khô hạn và thích ứng biến đổi khí hậu.

Một không gian phát triển mới: biển sâu, vùng khô hạn và nông nghiệp thích ứng khí hậu

Khánh Hòa mới là sự kết hợp giữa hai vùng có tính bổ sung rất mạnh. Khánh Hòa cũ nổi bật với Nha Trang, Cam Ranh, Vân Phong, du lịch biển, cảng biển, nuôi biển, thủy sản và dịch vụ. Ninh Thuận cũ lại nổi bật với khí hậu khô hạn, nhiều nắng gió, nho, táo, nha đam, măng tây, dê, cừu, năng lượng tái tạo và các mô hình nông nghiệp tiết kiệm nước.

Điều đặc biệt là sau sáp nhập, Khánh Hòa mới có một không gian phát triển liên tục từ vùng núi phía Tây xuống đồng bằng ven biển, các vịnh kín gió, vùng biển mở, đảo ven bờ và đặc khu Trường Sa. Đây là nền tảng rất quan trọng để tỉnh phát triển theo mô hình kinh tế biển xanh – nông nghiệp thích ứng khí hậu – thủy lợi tiết kiệm nước – du lịch sinh thái – năng lượng sạch.

Tuy nhiên, lợi thế lớn luôn đi kèm thách thức lớn. Khánh Hòa mới vừa có vùng khô hạn nhất cả nước, vừa có vùng biển nhạy cảm về môi trường, vừa có nhu cầu nước tăng nhanh từ đô thị, du lịch, công nghiệp, nông nghiệp và nuôi biển. Vì vậy, nếu chỉ nhìn Khánh Hòa như một tỉnh du lịch biển hoặc chỉ nhìn Ninh Thuận cũ như vùng khô hạn, sẽ không thấy hết bài toán phát triển mới của tỉnh.

Nông nghiệp Khánh Hòa: từ đặc sản địa phương đến nông nghiệp giá trị cao

Nông nghiệp Khánh Hòa mới không có lợi thế về diện tích lớn như Tây Nguyên hay đồng bằng sông Cửu Long, nhưng có lợi thế rất rõ về sản phẩm đặc thù, khí hậu khác biệt, thị trường du lịch và tiềm năng xuất khẩu.

Theo Chương trình khuyến nông tỉnh Khánh Hòa năm 2026, tỉnh đã hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung. Sầu riêng được phát triển tại các khu vực Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Lâm Sơn, Tây Bác Ái với diện tích hơn 3.376 ha, sản lượng gần 20.000 tấn/năm. Xoài tập trung tại Cam Lâm, Cam Ranh với diện tích gần 9.000 ha, sản lượng hơn 51.700 tấn/năm. Bưởi da xanh có hơn 1.700 ha, sản lượng khoảng 5.000 – 5.500 tấn/năm. Đây là nhóm cây ăn quả có giá trị cao, phù hợp với định hướng nông nghiệp hàng hóa và xuất khẩu.

Vùng Ninh Thuận cũ đóng góp một nhóm sản phẩm rất đặc sắc cho Khánh Hòa mới. Cây nho hiện có khoảng 686 ha, trong đó 636 ha cho sản phẩm, sản lượng thu hoạch hơn 18.546 tấn. Cây táo có diện tích 1.326,6 ha, trong đó 1.236 ha cho sản phẩm, sản lượng đạt hơn 52.177 tấn. Nha đam có khoảng 510 ha, sản lượng hơn 71.773 tấn; măng tây khoảng 784 ha, sản lượng 6.150 tấn; tỏi khoảng 484,6 ha, sản lượng hơn 3.006 tấn. Những số liệu này cho thấy Khánh Hòa mới có một nền nông nghiệp khô hạn rất riêng, không giống với các tỉnh ven biển khác.

Chính điều kiện khô nóng, nhiều nắng, ít mưa ở khu vực Ninh Thuận cũ đã tạo nên các sản phẩm đặc trưng như nho, táo, nha đam, măng tây, dê, cừu. Theo thông tin từ Cổng Xây dựng chính sách, pháp luật của Chính phủ, Ninh Thuận được xem là vùng khô hạn nhất cả nước, lượng mưa chỉ khoảng 700 – 800 mm/năm, mùa khô kéo dài 9/12 tháng. Đây là thách thức rất lớn cho sản xuất, nhưng cũng là điều kiện tạo nên các mô hình nông nghiệp thích ứng khí hậu rất đặc thù.

Ở hướng biển, Khánh Hòa là địa phương có tiềm năng lớn về nuôi biển công nghệ cao. Sau một năm triển khai Đề án thí điểm phát triển nuôi biển công nghệ cao, toàn tỉnh đã có 45 hộ dân và 3 doanh nghiệp đăng ký nuôi biển công nghệ cao tại các vùng biển đến 3 hải lý và từ 3 đến 6 hải lý; trong đó đã có 28 hộ dân hạ thủy lồng và thả giống, 17 hộ dân và 2 doanh nghiệp được cấp giấy phép nuôi trồng thủy sản trên biển. Đây là hướng chuyển đổi quan trọng từ nuôi lồng bè truyền thống ven bờ sang nuôi biển hiện đại, an toàn hơn, quy mô lớn hơn và thân thiện hơn với môi trường.

Như vậy, nông nghiệp Khánh Hòa mới có thể được nhìn theo ba lớp: nông nghiệp cây ăn quả và đặc sản vùng núi – nông nghiệp khô hạn tiết kiệm nước – thủy sản và nuôi biển công nghệ cao. Đây là lợi thế rất lớn, nhưng không thể phát triển bằng cách mở rộng tự phát. Tỉnh cần đi theo hướng nông nghiệp chất lượng cao, tiết kiệm nước, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu, gắn với du lịch và thị trường xuất khẩu.

Thủy lợi và tài nguyên nước: bài toán sống còn của vùng khô hạn ven biển

Nếu nói nông nghiệp là lợi thế, thì nước chính là giới hạn phát triển của Khánh Hòa mới. Điều này đặc biệt đúng với khu vực Ninh Thuận cũ, nơi hạn hán và thiếu nước từng là thách thức thường xuyên.

Theo thông tin chuyên ngành, Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Ninh Thuận hiện quản lý 23 hồ chứa với tổng dung tích gần 410 triệu m³, 32 trạm bơm điện, 4 hệ thống đập dâng lấy nước trên sông Cái và hệ thống công trình chuyển nước dài hơn 1.066 km. Các công trình này phục vụ sản xuất nông nghiệp, nước sinh hoạt và phát triển kinh tế – xã hội cho khu vực phía Nam tỉnh, tức vùng Ninh Thuận cũ.

Nhờ đầu tư thủy lợi trong nhiều năm, vùng Ninh Thuận cũ đã cải thiện đáng kể khả năng chủ động nước. Diện tích cấp nước chủ động từ các công trình thủy lợi tăng lên khoảng 79.600 ha; riêng năm 2025, diện tích tưới của Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Ninh Thuận đạt hơn 82.500 ha. Đây là kết quả rất quan trọng, cho thấy thủy lợi đã góp phần biến một vùng khô hạn thành vùng sản xuất nông nghiệp đặc thù có giá trị cao.

Tuy nhiên, bài toán nước của Khánh Hòa mới không vì thế mà nhẹ đi. Tỉnh có các hệ thống sông ngắn, lưu vực hẹp, mùa mưa thường tập trung trong thời gian ngắn, còn mùa khô kéo dài. Khi mưa lớn, nguy cơ lũ cục bộ, sạt lở, ngập vùng thấp vẫn có thể xảy ra. Khi khô hạn kéo dài, thiếu nước sinh hoạt, thiếu nước tưới, suy giảm nước ngầm và xâm nhập mặn vùng ven biển lại trở thành vấn đề lớn.

Trong bối cảnh mới, thủy lợi Khánh Hòa không thể chỉ là “tưới cho nông nghiệp”. Đó phải là hệ thống quản lý tổng hợp tài nguyên nước cho nông nghiệp, dân sinh, du lịch, công nghiệp, nuôi biển, môi trường và quốc phòng – an ninh biển đảo. Trọng tâm cần chuyển mạnh sang trữ nước mùa mưa, tiết kiệm nước mùa khô, điều phối liên vùng, kiểm soát khai thác nước ngầm, ứng dụng quan trắc tự động và nâng cao an toàn hồ đập.

Một điểm cần nhấn mạnh là phát triển nông nghiệp ở Khánh Hòa mới phải đặt trong khả năng chịu tải của nước. Nho, táo, nha đam, măng tây, sầu riêng, xoài, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản đều cần nước, nhưng mỗi vùng có điều kiện rất khác nhau. Vì vậy, quy hoạch sản xuất phải đi cùng quy hoạch nước; không thể phát triển cây trồng giá trị cao ở nơi không bảo đảm nguồn nước ổn định.

Môi trường: bảo vệ rừng, biển và hệ sinh thái khô hạn

Môi trường Khánh Hòa mới có tính nhạy cảm rất cao. Tỉnh có rừng đầu nguồn, vùng khô hạn, đất nông nghiệp ven biển, hệ sinh thái vịnh, san hô, đảo, đầm, vùng nuôi biển và đặc khu Trường Sa. Đây là những tài sản sinh thái rất quý, nhưng cũng rất dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu và phát triển nóng.

Về rừng, Khánh Hòa hiện có hơn 400.114 ha đủ tiêu chí thành rừng, gồm khoảng 325.131 ha rừng tự nhiên74.984 ha rừng trồng; tỷ lệ che phủ rừng đạt 46,83%. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ che phủ rừng đạt 47%. Rừng ở Khánh Hòa không chỉ là tài nguyên lâm nghiệp, mà còn giữ vai trò bảo vệ nguồn nước, giảm xói mòn, hạn chế lũ, bảo vệ hồ chứa và điều hòa khí hậu vùng khô hạn.

Về biển, Khánh Hòa có trách nhiệm rất lớn trong bảo vệ hệ sinh thái vịnh và rạn san hô. Kế hoạch tổng thể phục hồi vịnh Nha Trang đến năm 2030 đã nêu nhiều nhóm giải pháp như tạm dừng các hoạt động có nguy cơ gây hại đến môi trường và rạn san hô tại Hòn Mun, phục hồi rạn san hô, phân vùng chức năng khu bảo tồn biển và hỗ trợ bảo tồn rùa biển. Điều này cho thấy môi trường biển không còn là vấn đề phụ trợ, mà là nền tảng của du lịch, thủy sản và hình ảnh phát triển xanh của tỉnh.

Vùng Ninh Thuận cũ lại có vấn đề môi trường khác: khô hạn, suy thoái đất, thiếu nước, áp lực chăn thả, cát bay, nắng nóng và nguy cơ sa mạc hóa cục bộ. Đây là hệ sinh thái đặc thù, cần được quản lý theo hướng thích ứng chứ không thể áp dụng máy móc mô hình của các vùng ẩm hơn. Với vùng này, bảo vệ đất, giữ ẩm, trồng cây phù hợp, phát triển nông nghiệp tiết kiệm nước và tránh khai thác quá mức nước ngầm là yêu cầu rất quan trọng.

Khánh Hòa mới cũng chịu áp lực lớn từ đô thị hóa ven biển, du lịch, cảng biển, nuôi biển, rác thải nhựa, nước thải sinh hoạt, nước thải chế biến thủy sản và phát triển hạ tầng. Nếu không kiểm soát tốt, chính những lợi thế lớn nhất như vịnh đẹp, biển sạch, san hô, du lịch và thủy sản sẽ bị ảnh hưởng.

Thuận lợi lớn của Khánh Hòa mới

Thuận lợi lớn nhất của Khánh Hòa mới là sự bổ sung giữa hai vùng sinh thái rất khác nhau. Khánh Hòa cũ có biển, vịnh, đảo, du lịch, cảng biển, nuôi biển và dịch vụ. Ninh Thuận cũ có nắng, gió, nông nghiệp khô hạn, năng lượng tái tạo, nho, táo, dê, cừu và kinh nghiệm sử dụng nước tiết kiệm. Khi kết hợp lại, tỉnh có thể phát triển mô hình rất riêng: kinh tế biển xanh – nông nghiệp thích ứng khí hậu – năng lượng sạch – du lịch sinh thái – thủy sản công nghệ cao.

Thuận lợi thứ hai là thị trường và thương hiệu. Nha Trang, Cam Ranh, Vân Phong, Ninh Chữ, Vĩnh Hy, Phan Rang và Trường Sa đều là những địa danh có sức gợi rất mạnh. Nông sản, thủy sản, du lịch và sản phẩm OCOP của tỉnh có thể gắn với hình ảnh biển xanh, vùng nắng gió và nông nghiệp sạch.

Thuận lợi thứ ba là cơ hội phát triển nuôi biển công nghệ cao. Khánh Hòa đang đi đầu trong thí điểm nuôi biển công nghệ cao, với mục tiêu đến năm 2030 chuyển đổi 100% lồng bè nuôi truyền thống sang lồng HDPE và nuôi công nghiệp vùng biển xa bờ. Nếu làm tốt, đây có thể là ngành kinh tế mũi nhọn, vừa tạo sinh kế cho ngư dân, vừa giảm áp lực vùng ven bờ.

Thuận lợi thứ tư là nền tảng thủy lợi ở vùng khô hạn đã được cải thiện rõ rệt. Hệ thống hồ chứa, đập dâng, trạm bơm và kênh chuyển nước ở khu vực Ninh Thuận cũ là nền tảng quan trọng để tỉnh chủ động hơn trong sản xuất và dân sinh.

Khó khăn và thách thức chủ yếu

Khó khăn lớn nhất là thiếu nước và phân bố nước không đều. Vùng Ninh Thuận cũ có mùa khô kéo dài, lượng mưa thấp, bốc hơi mạnh. Trong khi đó, nhu cầu nước cho nông nghiệp, du lịch, đô thị, công nghiệp, năng lượng và dân sinh đều tăng. Nếu không quản lý tốt, thiếu nước sẽ trở thành giới hạn lớn nhất của phát triển.

Khó khăn thứ hai là rủi ro phát triển nóng. Sầu riêng, nho, táo, nha đam, măng tây, nuôi biển công nghệ cao và du lịch biển đều có giá trị cao, nhưng nếu phát triển quá nhanh mà không kiểm soát nước, môi trường, thị trường và hạ tầng, rủi ro sẽ rất lớn.

Khó khăn thứ ba là áp lực môi trường biển. Du lịch, rác thải nhựa, nước thải đô thị, lồng bè nuôi biển truyền thống, tàu thuyền và phát triển ven biển đều có thể ảnh hưởng đến vịnh, san hô, cỏ biển, nguồn lợi thủy sản và cảnh quan.

Khó khăn thứ tư là quản trị sau sáp nhập. Tỉnh mới có 65 đơn vị cấp xã, gồm cả xã miền núi, phường đô thị, vùng khô hạn, vùng ven biển và đặc khu Trường Sa. Mỗi vùng có yêu cầu quản lý rất khác nhau. Nếu không có cơ sở dữ liệu thống nhất về đất, nước, rừng, hồ chứa, vùng nuôi biển, nguồn thải, rủi ro thiên tai và hạ tầng, việc điều hành sẽ rất khó chính xác.

Hướng phát triển phù hợp

Theo em, Khánh Hòa mới nên phát triển theo hướng: kinh tế biển xanh – nông nghiệp thích ứng khí hậu – thủy lợi tiết kiệm nước – bảo vệ rừng và biển – du lịch sinh thái.

Về nông nghiệp, cần ưu tiên các sản phẩm thật sự có lợi thế như xoài, sầu riêng, nho, táo, nha đam, măng tây, tỏi, dê, cừu, yến sào, thủy sản và nuôi biển. Tuy nhiên, tất cả phải đi theo hướng tiết kiệm nước, chất lượng cao, có mã số vùng trồng, có truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu và gắn với du lịch.

Về thủy lợi, cần lấy an ninh nước làm trọng tâm. Tỉnh nên ưu tiên nâng cấp hồ chứa, an toàn đập, liên kết nguồn nước, tưới nhỏ giọt, quan trắc hạn – mặn, tái sử dụng nước, bảo vệ nước ngầm và điều phối nước theo lưu vực. Ở vùng khô hạn, mỗi mét khối nước phải được xem là một nguồn lực chiến lược.

Về môi trường, cần bảo vệ nghiêm rừng đầu nguồn, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh, Vân Phong, vùng ven biển Ninh Thuận cũ, các rạn san hô và hệ sinh thái Trường Sa. Phát triển kinh tế biển phải đi đôi với giảm rác thải nhựa, kiểm soát nước thải, chuyển đổi lồng bè truyền thống và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Nhận định tổng quát

Khánh Hòa mới có tiềm năng trở thành một trong những tỉnh tiêu biểu của Việt Nam về kinh tế biển xanh, nông nghiệp thích ứng khí hậu, nuôi biển công nghệ cao, du lịch sinh thái và năng lượng sạch. Lợi thế lớn nhất là sự kết hợp giữa biển đẹp, vịnh sâu, đảo, đặc khu Trường Sa, vùng khô hạn nhiều nắng gió và những sản phẩm nông nghiệp rất đặc trưng.

Nhưng điểm nghẽn lớn nhất cũng rất rõ: thiếu nước, hạn hán, áp lực môi trường biển, suy giảm hệ sinh thái ven bờ, rủi ro phát triển nóng và yêu cầu quản trị một không gian rất đa dạng sau sáp nhập. Nói ngắn gọn, Khánh Hòa mới muốn phát triển bền vững thì phải coi nông nghiệp – thủy lợi – môi trường là một hệ thống thống nhất. Rừng giữ nước cho vùng khô hạn; thủy lợi bảo đảm sinh kế và sản xuất; biển tạo động lực tăng trưởng; còn môi trường chính là tài sản lâu dài của tỉnh. Với Khánh Hòa, phát triển không chỉ là đi nhanh hơn, mà còn phải đi bền vững hơn, xanh hơn và biết giữ gìn những giá trị thiên nhiên rất đặc biệt mà không phải địa phương nào cũng có.